Không viết được thì đừng viết
Không nói được thì đừng nói
Im Lặng hùng hồn như Núi đá
Im Lặng trầm hùng như biển cả
Im lặng dạt dào như cây lá
IM LẶNG
IM LẶNG
Bật sáng Nội tâm ta.
Đồng Quy Nhân loại-Đồng Tôn Nhân Thế-Đồng Tiến Chúng sinh Hạ Long Bụt Sĩ LVV chủ trì.
Sunday, December 16, 2012
Wednesday, December 5, 2012
Vẽ Vời Vô Ích
Con rắn là con rắnhttp://halongbutsi.blogspot.com/
Vẽ thêm chân mang kiếp thằn lằn
Con cáo là con cáo
Cài thêm râu cũng chẳng hoá thần !
Tuesday, December 4, 2012
Lời LÝ ĐÔNG A Cảnh Báo Dân tộc
LỜI CẢNH BÁO VỀ NGUY CƠ ĐẠI HÁN
của tư tưởng gia LÝ ĐÔNG A từ 70 năm trước.
Lý Đông A, một tư tưởng gia thâm viễn của Việt tộc, từ những năm 1940, trong tập Chu Tri Lục ( bàn về sự biết chu toàn) tập 3, đã phân tích và trưng ra những nguy cơ của kế hoạch Đại Hán của Tầu, dù là Tầu Quốc hay Tầu Cộng.
Lý Đông A đã nhìn rõ, từ 1943, sau đệ nhị Thế chiến, thế giới 1950-2000 sẽ chuyển mình sang chế độ mới, với các liên minh quốc tế. Tại thời điểm 1940, Căn bản lập trường dân tộc qua Cương Lĩnh 2, đối Tầu, gồm vài điểm quan trọng sau :
1- Quy luật lịch sử Tầu là : Lấy Tài Hoá Thu Nhân Tâm ( thoát nghĩa Hữu đức giả hữu thổ ), Hưng Hoa diệt Di, thiên hạ đại đồng theo lối Hán mà vũ khí và thủ đoạn chủ yếu là chủng tộc xâm lược.
2- Tam Dân chủ nghĩa của Tôn Văn cũng là một chủ nghĩa đế quốc : Tôn Văn từng nói với cụ Phan Bội Châu : “ Các ông bất tất phải làm, chỉ là một tỉnh của Tầu, chúng tôi làm xong thì xong”, và sau này Tưởng Giới Thạch cũng nói : “ Việt Nam là Tầu, Việt Nam để người Tầu làm giúp cho”.
3- Năm 1911, Tôn Văn đề xướng Ngũ Tộc Cộng Hoà, gồm 90% là nhân khẩu Tầu, 10% là Mãn, Mông, Tạng, Miêu ( là Việt núi). Năm 1916 Tôn Văn luận Quốc Tộc tức đúc các dân tộc vào một lò mà thống nhất thế giới, chia toàn quốc ra Tỉnh,Quận,Huyện, khoảng 1921-22, Tôn Văn nói : Ta phải đem các dân tộc Thái, Việt…liên hợp lại cùng chống đế quốc.
4- Năm 1940, Chính Trị Địa Lý Bộ của chính phủ Trùng Khánh, ra tập Đông Á Địa Lý, quy định 8 con đường phát triển của nòi Hán sau này :
-1/Tây Bá Lợi Á- 2/ Tây Tạng, Ba Tư- 3/Tân Cương- 4/Ấn Độ- 5/Việt, Thái,Miến,Tân Gia Ba- 6/Nam Dương liệt đảo- 7/Úc châu- 8/Thái Bình Dương liệt đảo & Hàn quốc.
Để đạt mục đích, Tầu dùng cách : Lộ Ố Nàm ( lấy vợ An Nam)-Dìu Ố Nàm ( tiêu tiền An Nam)-Chì Ố Nàm ( ở đất An Nam).
Lý Đông A còn trưng rõ : tờ Đại Lộ Nguyệt San ở Thượng Hải, số ngày 1-5-1933 đã đăng bài Nam Dương Hoa Kiều Cộng Hoà Quốc Vận Động, chủ trương lấy Hoa kiều làm chủ lực xâm lược, biến Nam Dương thành Hoa kiều Cộng hoà quốc, về Việt Nam : Bắc kỳ quy về mẫu quốc, Trung kỳ và Nam kỳ thuộc về Hoa kiều thống trị. Trên tờ Quảng Tây Nhật Báo số ngày 26-11-1942 đề xướng “Hoa kiều thổ hoá vận động” qui định bề mặt phải thổ hoá nghĩa là Hoa kiều ăn mặc theo thổ dân, nói tiếng thổ dân, ảnh hưởng văn hoá thổ dân để bề trong tăng tác dụng Hán hoá.
Lý Đông A còn nhấn mạnh : “ Đối riêng VN, họ đang nghiên cứu cách nào lập thành một Tỉnh, nuôi Việt gian thế nào, diệt chữ quốc ngữ thế nào, , tiễu trừ dân tộc ý thức cách nào, làm sao cho người Việt tưởng mình là Hán, khôi phục chữ Nho thế nào…thống trị thế nào…”
5- Tầm quan trọng của đất nước Việt Nam đã được viễn kiến Lý Đông A kết tinh hùng hồn như sau : “ Đất ta là đất cơ sở của Thái Bình Dương, trung tâm của Đông Nam Á, tư lệnh đài của quốc tế, được ta thì tiến lên xưng bá loài người, lui về thì tự thủ muôn thuở…đứng vào thiên hiểm của trung tâm…đời nay nếu ta muốn sống phải hết sức mạnh mà ta hững hờ là thì tất diệt. Lại đời nay, diệt tức là toàn diệt đó, Ta chớ hòng làm Hoà Lan hay Thuỵ Sĩ…ta là cái xương hóc giữa cổ họng chú chiệc…”
LẠM BÀN
1-Đối Tầu, phân tích cặn kẽ của Lý Đông A, 70 năm sau, vẫn còn nguyên vẹn giá trị và vẫn làm kim chỉ nam cho cuộc vận động toàn dân sinh tồn phòng vệ. Nhật, Pháp chỉ là đối thủ chóng qua, Tầu trước sau vẫn là đối thủ truyền kiếp.
2-Trung Cộng đã chiếm Tân Cương, Tây Tạng, từng đánh Ấn Độ 1962, mưu toan ở Nam Dương 1965 …đúng như dự liệu của Lý Đông A, và so với tiết lộ của Wikileaks gần đây, thì mưu lược của Tầu trước sau vẫn là mở đường xuống Đông Nam Á, qua VN, lối tằm ăn dâu, thuê đất thuê rừng, khai Bâuxít, mỏ quặng, lấn đảo, biển, dùng tài hoá đầu tư khắp VN nhất là đang nhắm vùng biên giới Móng Cáy ( ngũ niên kế hoạch đầu tư hơn 400 tỷ từ nay tới 2015). (1)
3-Lý Đông A nhìn rõ thế giới từ 1950-2000, hậu Thế chiến II, đổi mới theo hướng quốc tế liên minh, mà VN trong liên minh Đại Nam Hải, phải thật mạnh để đối kháng Tầu.
4- Cảnh báo về âm mưu Hán hoá : nuôi Việt gian, làm sao cho người mình tưởng mình là Hán, diệt trừ chữ quốc ngữ, khôi phục chữ Nho thế nào…vẫn còn nguyên giá trị. Hiện tại vẫn không thiếu người vì lòng yêu chữ Nho-chữ Nôm, vô tình tuyên truyền cho âm mưu đó mà quên rằng, cổ ngữ như LaTinh,Hy Lạp vẫn chỉ là cổ ngữ và quốc ngữ abc mới là nét đặc sắc của Văn hoá linh động cấp tiến Việt, tách rời bóng trùm Hán học.
***
Tiếc rằng Lý Đông A đã khuất bóng sớm, từ 1946, không kịp nhìn thấy những chuyển biến rất lớn của thế giới : Tầu Cộng chiếm Hoa lục từ 1949, Tưởng chạy ra Đài Loan, Quốc Cộng VN 1954, VN 1975, Nga sô Đông Âu xụp đổ 1990, thế giới Hồi giáo bừng dậy, cuộc cách mạng điện tử mở rộng thông tin toàn cầu từ 1980….
Nam Dương, nhờ 90% Hồi giáo đã đẩy ngã Cộng sản Hoa kiều xuống biển.
Hàn, Nhật, trở thành cường quốc kinh tế, đối kháng mạnh mẽ với tiềm năng kinh tế của Tầu.
Ấn Độ cũng trở thành một cường quốc, Tầu khó có thể xâm chiếm (2)
Úc châu, Tân Tây Lan, Phi Luật Tân, Mã Lai, Singapore, Đài Loan…những đảo quốc này với hải quân và hạm đội Hoa kỳ, không dễ gì hải quân mới lớn của Tầu có thể áp đảo, Tầu chưa từng có kinh nghiệm về hải chiến và đại chiến.
Hai khâu yếu nhất hiện tại là Lào và Việt Nam. Nếu VN biết nghiêng hẳn sang khối ASEAN và đại cường Hoa Kỳ, vận động yểm trợ của quan thầy cũ là Nga Sô tạo áp lực miền Tân Cương, Tây-Tây Bắc Trung Hoa, thì VN có thể thoát hiểm và làm chùn chân hồ đội lốt hổ Tầu.
Tại sao Tầu lại là hồ đội lốt hổ ? phân tích ta thấy dân Tầu 1.3 tỷ là loại dân hỗn tạp, nam Dương Tử vốn là giống Bách Việt, cả 56 bộ tộc, dân Hán từng bị Mông Cổ đô hộ 99 năm, Mãn Thanh thống trị 300 năm, binh hùng tướng mạnh, Tống, Minh.. sang đánh VN lần nào cũng tan tành đại bại, đầu thế kỷ XX Nhật Bản vũ bão đánh chiếm Mãn châu, Trung nguyên Tầu, Bát quốc xâu xé bắt nhượng địa, vì sao ? có thể kê ra những nhược điểm của Tầu như sau :
* Dân Tầu không phải là loại dân chiến sĩ –warriors- như Nhật, Mông, đa số là dân buôn bán, trí thức nhào nặn trong Nho Khổng cả ngàn năm, ô hợp, cúi mình theo cấp trên, làm việc lấy lệ, dối trá cho yên thân, trọng tiểu lợi, đầy dẫy những tiểu nhân tài bất cập chí, đầu óc còn phong kiến lạc hậu, chưa nhìn ra thế toàn cầu, vẫn lúi húi trong trò chơi chính trị Chiến quốc Tam quốc. Dân tình dân trí như thế làm sao bá chủ hoàn cầu ?
* Khối người Tầu theo hướng Tự Do Dân chủ, chống Cộng, khá đông vòng quanh thế giới, Đài Loan, Tân Gia Ba, Mỹ, Gia Nã Đại…Lý Quang Diệu từng cảnh tỉnh Đặng Tiểu Bình về đầu óc thực dân lấy mạnh hiếp yếu của Tầu Cộng. Khối này, cộng với những người đối kháng thức thời trong Hoa lục, không để Trung Cộng yên ổn khi có đại biến cố xẩy ra.
* Vũ khí nguyên tử mới không còn nể sợ biển người của Tầu, chưa kể loại quân Tầu phù, ngay cả 200 năm trước cũng đã bị Nguyễn Huệ phá tan trong một tuần lễ. Miếng ăn, nạn đói luôn luôn ám ảnh dân Tầu, dân xấu xí uý tử tham sinh hơn là bền gan sắt đá.
* Âm mưu của Trung Cộng lấy kinh tế bao vây Âu Mỹ, không qua mặt được bậc thầy kinh tài Nữu Ước Luân đôn, bậc thầy chứng khoán, bonds.. Do Thái..Giỏi về thương mại, quen hối lộ, gian thương..sau 30 năm canh tân từ 1979 tới nay Tầu vẫn chưa có nổi một thương hiệu quốc tế như Đại Hàn với Samsung, Hyundai, LG…có nghĩa là một nền kinh tế chậm tiến gia công cho Nhật, Âu, Mỹ…Cựu thủ tướng Anh, M.Thatcher từ 2002 cho rằng phải mất 40 năm nữa Tầu mới tân tiến, giải quyết xong cấu trúc hạ tầng xã hội. Hiện tại Tầu công kích Mỹ lấy Đô La làm loại tiền thống trị thế giới, nhưng đến bao giờ đồng Yuan của Tầu mới có uy tín bằng đô la để được quốc tế chấp nhận ?
* Trước trào lưu dân chủ tự do lan tràn toàn thế giới, sách lược Tâm Công của Nguyễn Trãi, từng làm quân Minh tan hàng, có thể dùng để làm rã ngũ quân cán Trung Cộng nếu phối hợp được với các lực lượng đối kháng của chính người Tầu trên thế giới và người Bách Việt, người trí thức khát vọng tự do dân chủ ngay trong đất Tầu.
CHÚ THÍCH
1-Năm 1965, cùng với chiến tranh VN, đảng CS Nam Dương với 3.5 triệu đảng viên và 20 triệu người ủng hộ, là đảng mạnh nhất trong 18 đảng, họ toan nắm quyền ở Nam Dương. Khi ấy TT Sukarno lại bỏ Âu Mỹ, nghiêng về Trung Cộng, với lạm phát 650% kinh tế kiệt quệ, Sukarno từng chửi rủa Mỹ : “ Go to Hell with your aid ” đuổi đoàn thiện chí Peace Corp Mỹ, ông bi bệnh, không chịu giải phẫu ở Vienna mà lại quay về với Đông Y Tầu…May nhờ giới quân nhân chống Cộng quyết liệt và khối Hồi giáo thuần thành vốn chống vô thần, đảng CS Nam Dương bị triệt hạ, quần chúng nổi lên giết người Hoa mà họ cho là đứng sau đảng CS ( CS Tầu đã chuyển vũ khí cho CS Nam Dương), họ trả lại đất cho điền chủ bị CS địa phương tước đoạt…Theo Đại sứ Mỹ năm 1966 cho biết khoảng 400,000 CS và thân CS bị tàn sát, Đại sứ Thuỵ điển cho rằng số bị giết ít nhất là 1 triệu người. Hoa Kỳ khi ấy quyết tâm chặn đứng sức bành trướng của Trung Cộng ở biển Đông, từ Mã Lai-Nam Dương-tới Nam VN. Ngày nay, khu Tầu ở Nam Dương không dám đề chữ Hán trên bảng hiệu ! ( Sukarno bị truất 1967, mất năm 1970-tướng Suharto lên thay)
2-Xung đột biên giới Ấn-Tầu 1962 làm Thủ Tướng Nerhu tỉnh ngộ : Huynh đệ Ấn-Tầu-India-China Brothers- chỉ là trò hề, ngay sau đó Ấn tăng cường quân đội gấp đôi để phòng Tầu, cùng vụ hoả tiễn ở Cuba năm ấy , Mỹ và Âu châu nhìn ra tham vọng bành trướng của CS và riêng Nga cũng bắt đầu nghi ngại mối hoạ láng giềng Tầu. ( tài liệu tra cứu từ Google ).
Sunday, December 2, 2012
Saturday, December 1, 2012
VIỆT SỬ NHÌN THẲNG
DÒNG VIỆT SỬ CHÍNH THỐNG :
Từ LÝ -TRẦN đến MẠC -NGUYỄN
Thế tam phân Lê Trịnh- Mạc- Nguyễn
Chiến lược Bạch Vân Am và sự hình thành tân quốc Việt đàng trong.
Trong lịch sử Việt Nam, nhà Mạc, 66 năm làm chủ đất nước, đóng đô chính vị tại Thăng Long, thêm hơn 80 năm tại Cao Bằng, tổng cộng 150 năm mới dứt nghiệp, là triều đại bị sử gia bóp méo và bất công nhiều nhất, điều này dễ hiểu, và rõ ràng, vì các sử gia của Lê, Trịnh, và cả triều Nguyễn nữa, đều đứng về phía nhà Lê mà viết, nên triều Mạc bị coi là Ngụy triều, nhóm Lê Trịnh nổi lên một góc rừng Thanh Hóa-Lào, diện tích rộng nhưng hẻo lánh hơn đất Cao Bằng của nhà Hậu Mạc, với các ông Chúa Chổm, trộm gà, mặc khố...thì lại được bốc lên làm chính triều... từ 100 năm nay, cũng chưa thấy cuốn Sử nào chỉnh lại, kể cả cuốn Trần Trọng Kim và đa số sử sách của VNXHCN hiện tại (1)
Thật ra, nhà Mạc là một khúc nối đặc biệt và quan trọng của thời đại chuyển hướng đất Việt, ngũ bách niên hậu, mà Trạng Trình, người đào tạo 3000 môn sinh Bạch Vân Am, đã góp phần xếp đặt thế cuộc vào thế kỷ XV, mở ra 500 năm lịch sử, cho tới hiện đại, cuộc diện Việt Nam vẫn chưa hẳn ra khỏi kế hoạch " Hoành sơn nhất đái " ấy.
I- NHÀ MẠC NHƯ LÀ KHÂU NỐI TIẾP LÝ -TRẦN
Nhà Mạc khởi nghiệp tuy không nhân hậu bằng nhà Lý, nhưng ít đổ máu hơn nhà Trần, Mạc Ðăng Dung xuất thân dân đánh cá, giống họ Trần, nhưng Mạc Ðăng Dung là một võ quan cao cấp, tương tự Trần Thủ Ðộ, thấy chính sự đổ nát, vua heo Uy Mục, vua quỷ Tương Dực (trư vương, quỷ vương), nên ra tay lập nghiệp, cũng không có gì sai trái. Khi lấy được nước, nhà Mạc theo phép tắc nhà Trần, Mạc Ðăng Dung lên làm Thái Thượng Hoàng, nhường ngôi cho con, cắt mấy động biên giới để mua chuộc hòa bình, chính là Thái Thượng Hoàng đi làm thay vua, chịu nhục thay vua, chứ không phải chính vua đi. Thế nước còn yếu, sau mấy chục năm Hậu Lê suy tàn, Mạc Ðăng Dung dùng thủ đoạn như vậy, tuy chẳng đẹp đẽ, nho sĩ bất phục, nhưng thực tế chứ không sĩ diện hão, mà cũng không hèn hạ như chính vua Lê Chiêu Thống cõng rắn cắn gà nhà sau này. Suốt hơn 60 năm, nhà Mạc giữ yên bờ cõi phương Bắc, khi Phùng Khắc Khoan đi sứ Tầu (khoảng 1593, Lê Trịnh đã hạ được nhà Mạc và mới lên ngôi vua chúa ở Thăng Long), thì Lý Chi Phong, sứ thần nước bạn Hàn quốc, vẫn hỏi " nghe nói vua nước ông là họ Mạc,..họ Mạc có phải là Mạc Mậu Hợp không ? " và đặc biệt là sứ giả Phùng Khắc Khoan khi được hỏi " Vua Lê mất nước mấy năm mới lấy lại được nước cũ? thì đã trả lời thẳng thắn trung thực hơn tất cả sử gia Việt sau này : " Hơn 50 năm " ( 2).
Nhà Mạc biết trọng dụng những quốc sĩ như Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn Thiến, Trạng Giáp Hải...mở 22 khoa thi đào tạo hơn 485 tiến sĩ trong hơn 60 năm, có được những ông vua hiền như Mạc Ðăng Doanh, 10 năm thịnh trị ,1530- 40, của rơi không ai buồn nhặt, gần cuối đời Mạc, tướng Mạc Ngọc Liễn, cột trụ lập Mạc Kính Cung làm vua ở đất Lạng Sơn, trước khi chết còn để thư dặn dò vua Mạc " ...còn dân thì tội tình gì mà nỡ để khổ sở mãi vì chiến tranh? vậy ta nên đành phận lánh mình ở nước ngoài, chứ đừng có đem lòng cạnh tranh mà lại mời người Tầu sang làm hại dân nước mình" ( VNSL TTKim- tập II tr. 25), cả nhà Lê " chính triều" không thấy ai nói được một câu trung hậu như thế, mà ngược lại còn sang Tầu cầu cứu chống Mạc (hồi đầu) và chống Tây Sơn ( Lê Chiêu Thống hồi sau).
Những cố gắng của triều Mạc rút cục vẫn không phục hưng được đất nước là vì :
1- Nhà Lý, nhà Trần, 400 năm có thành trì tinh thần nương tựa là khối tăng sĩ Phật giáo, nhiều vị chân tu, được dân chúng từ thiên tử tới thứ dân tin cậy, cho nên triều chính vững bền, trên dưới dung hòa, đất nước phồn thịnh, thành trì tinh thần ấy bị 99 năm nhà Hậu Lê làm suy hoại qua lớp trí thức Tống Nho, vướng kẹt vào khoa cử từ chương, không còn gần dân và từ dân đi lên nữa, lớp người cai trị, từ cuối Trần, qua Hồ, nhất là từ Lê Thánh Tôn, đi từ sách thánh hiền ra xã hội, chứ không khôn lớn từ bình dân đi ra, cho nên việc cai trị trở thành hình thức ngôn từ, lỏng lẻo không ăn vào làng xã, dân chúng bị xẻ làm hai, trên là vua quan , dưới là bình dân nông công thương và số hàn sĩ không khoa danh. Nhà Mạc khởi lên giữa một đất nước tàn sinh khí, tìm khối Sĩ để nương tựa, nhưng một Thái sơn Bắc đẩu như Trạng Trình cũng không cứu vãn được vì Nho học đã làm suy nhược trí thức, khoa cử đã đóng khung đầu óc, sách vở đã làm khô cạn sáng tạo, không như thời Lý Trần, văn ôn vũ luyện, mà đã trở thành tiên học lễ hậu học văn, mà văn đây lại là văn chương thơ phú, không phải là văn bao hàm đại hùng đại lực đại bi của Vạn Hạnh, Trúc lâm Yên tử, đấy chính là nhận xét của danh nho tk XVIII Lê Quý Ðôn. Ở thời phong kiến, loạn nhiều hơn bình, sự rèn luyện kẻ sĩ theo hướng từ chương, trói gà không chặt, không thể đáp ứng nhu cầu lãnh đạo xã hội, hiển nhiên thua kém đời Lý Trần, những Hưng Ðạo, Quang Khải, Ngũ Lão... có văn có võ từ sân chùa tôi luyện, là những "samurais" Việt Nam, trừ gian kháng bạo, nhân hậu mà dũng lược.
2- Nhà Mạc võ bị xuất thân không được sự ủng hộ của hàng ngũ Nho vốn đã mấy thế hệ đi với nhà Lê, có vị lấy nghiên mực ném vào mặt Mạc Ðăng Dung, Nguyễn Bỉnh Khiêm sau này tên bị đục khỏi bia Văn Miếu, chính hàng ngũ hủ nho thân Lê đã làm công trình tái tạo Lý Trần của lò đào tạo Bạch Vân Am bị hư hoại. Thật vậy, suốt 40 năm đào tạo, Nguyễn Bỉnh Khiêm đã có 3000 môn sinh, một con số sĩ phu rất lớn khi dân số đồng bằng sông Hồng sông Mã thế kỷ XVI thời đó hẳn không quá 3 triệu người...Nguyễn Bỉnh Khiêm là một nhà Nho đặc biệt không kênh kiệu từ chương, thơ nôm của ông toàn chú trọng tới sinh hoạt làng mạc bình dân, vịnh con cua con tôm, nói về măng trúc dưa giá, hồ sen, ao nước, lập quán trồng cây, xây cầu làng...ông chính là một Chu Văn An lương sư cộng với một Nguyễn Trãi tri hành hợp nhất, sâu sắc nét dân tộc Tam giáo...Ông phò nhà Mạc có thể vì ba lẽ : ông cùng quê Hải dương với nhà Mạc, ông nhìn Lê Trịnh cũng là võ biền chẳng hơn gì họ Mạc mà thực tế còn tệ hơn Mạc, ông lập chí tái tạo Lý Trần, mà truyền thừa hợp tình là họ Mạc từ mảnh đất đồng bằng sông Hồng chứ không phải là phe đảng từ núi rừng Thanh hóa, Nghệ An, với văn hóa đậm nét Chàm, Mường + Tầu, đã cả trăm năm làm mất truyền thống Hồng Bàng-Lý-Trần, lái dân tộc Việt sang hẳn hướng Tống Nho, có phần thờ ơ với gốc rễ làng mạc đình chùa, không nhìn ra giá trị văn hóa truyền thống bình dân Lạc Việt, một truyền thống giúp dân tộc tồn tại sau cả ngàn năm bị đô hộ và đã nở rộ bình Chiêm phá Tống đuổi Mông, kháng Minh.
3- Sau đời Hùng, dân Việt bị Tầu đô hộ, nhóm vào ở rừng núi là Mường, nhóm ở đồng bằng là Kinh. Cho tới đời Ðinh Bộ Lĩnh, Lê Hoàn, tk X, rõ ràng không có sự phân biệt Việt Kinh hay Việt Mường, nhưng đã thấy có sự giành lại của khối nhà sư ở trung tâm Luy Lâu-Cổ Loa để mang vị thế kinh đô từ phía Nam, Hoa Lư, về lại trung tâm với tên mới Thăng Long. Gần 400 năm Lý rồi Trần là công cuộc tái tạo xây dựng văn minh Hồng Bàng (chữ Hồng này có liên quan gì tới Hồng hà không?), tái dựng thành công văn hóa dân tộc với tinh thần dung hợp đặc sắc của Phật giáo Luy Lâu, các nhà sư, từ tk II, III, tới Vạn Hạnh, đã uyển chuyển khế cơ dung hợp Phật giáo với gốc rễ tín ngưỡng Pháp vân Pháp vũ, Tứ bất tử...mà nhà Mạc sau này thừa kế, cho xây dựng chùa, đình, làm thế sâu rễ bền gốc, nhiều đại thần, hoàng thân quy y; Mạc Ðăng Dung khi chết để di chúc "dựng đàn chay cúng Phật", Ðại Việt Thông Sử còn chép vị vua cuối, Mạc Mậu Hợp chạy quân Lê Trịnh, vào chùa trốn giả làm nhà sư, sau bị lộ chịu chết và than : Nghiệp chướng quá sâu! Nay cầu làm một người dân thường cũng không thể được! Quân sư tinh thần Trạng Trình, với đạo thuyết Trung Tân, làm việc phục hưng đến đâu thì bị phe Tống Nho phò Lê hủ lậu chống phá đến đó, nhiều người bỏ vào "kháng chiến khu" Thanh Hóa theo Lê- Trịnh như Lê Bá Ly, Nguyễn Thiến, ...có người như Nguyễn Quyện (tổ tiên Nguyễn Du), văn võ toàn tài, Trạng Trình đã phải dùng tới tình nghĩa thày trò mà kéo ở lại với Mạc năm 1557.
4- Dần dần, từ sau 1570, thế Lê -Trịnh mạnh lên ở vùng núi rừng Thanh Nghệ, nhưng nhà Mạc vẫn còn có quan quân ở vùng Ô châu, tức Quảng Bình Quảng Trị. Tác giả sách Ô châu Cận Lục là Dương Văn An (1555) vẫn nhận là quan nhà Mạc, vùng Ô châu tiếp giáp với Hoành sơn, đây chính là mảnh đất " Ba Thục" mà Trạng Trình đã nhắm cho Nguyễn Hoàng, để cùng nhà Mạc, sẵn có ở Ô châu, làm ỷ giốc kế, vây Lê- Trịnh vào giữa. Khi mới lên ngôi, 1530, Mạc Ðăng Doanh đã sớm cử hai em là Mạc Nhân Phủ, Mạc Quang Khải vào trấn thủ Thuận Hóa, Quảng Nam (3) chứng tỏ nhà Mạc có tầm nhìn về Nam phương khá rộng rãi. Tam quốc Việt khi ấy gồm : phía Bắc là Mạc với " Ðông đô", mạn giữa là Lê Trịnh với " Tây đô", phía Nam là Nguyễn với "tân đô" Thuận Hóa Phú Xuân.
Trận chiến giữa Mạc-Lê Trịnh lúc đầu diễn ra hai bờ sông Mã, phía nam Thanh hóa, Nguyễn Bỉnh Khiêm từng cảm khái viết :
...Khí vận nhất chu ly phục hợp
Trường giang khởi hữu hạn đông nam?
( Loạn trung ký Nguyễn cảo Xuyên)
Khí vận một vòng tan rồi hợp
Trường giang nào giới hạn đông nam?
( thơ gửi Trạng Nguyễn Thiến)
cho thấy Lê Trịnh chỉ có mảnh đất nhỏ, phát triển Bắc tiến, nhờ hậu thuẫn của giới Nho sĩ thủ cựu thờ Lê và nhờ nhà Mạc suy yếu dần dần sau này. Suốt 47 năm, đánh nhau 38 trận lớn nhỏ, sự giành giựt ngôi báu quả thật đã làm tan nát đất nước suốt thế kỷ XVI, nếu cộng với 50 năm Trịnh Nguyễn phân tranh với 7 lần đánh nhau lớn suốt tk XVII, thì nước ta bị 97 năm nội chiến.
5- Nguyễn Kim và Nguyễn Hoàng bị Trịnh Kiểm kiềm chế đe dọa, vợ Nguyễn Kim, bà họ Phạm, lại là người Hải dương (làng Phạm Xá, huyện Tứ Kỳ) cùng quê với họ Mạc và Trạng Trình, nên khi cử người ra vấn kế Trạng Trình thì Trạng Trình đã chỉ đường " Hoành sơn nhất đái, vạn đại dung thân", đây là một chiến lược tam phân thiên hạ, mở hẳn đường Nam tiến cho họ Nguyễn (Nguyễn Hoàng vào trấn thủ Thuận Hóa năm 1558, lúc này Lê Trịnh đã lên mạnh về mặt Nam Thanh Nghệ) làm vây cánh của Mạc vào phương Nam. Kế này là diệu kế nếu nhà Mạc vững vàng trên đất Bắc lâu dài. Không may, cơ trời chẳng cho nhà Mạc yên vị : sau Mạc Ðăng Doanh, các vua kế tiếp không bệnh hoạn ( Mạc Mậu Hợp bị sét đánh bán thân bất toại,1578, thêm chứng thong manh mắt, Mạc Phúc Nguyên chết vì đậu mùa 1561) thì non yểu, một tay hoàng thân thao lược Mạc Kính Ðiển, một tay tướng tài Nguyễn Quyện, một cố vấn Trạng Trình, vẫn không xoay vần được thời cuộc. Thậm chí đến học trò của Trạng Trình là Phùng Khắc Khoan, Lương Hữu Khánh... cũng vào Thanh hóa với nhà Lê, và dường như được chính Thày nhắc nhở thuận ý. Nếu phân tích kế hoạch " Hoành sơn nhất đái..." ta thấy có mấy khía cạnh đáng chú ý: Trạng Trình ngồi ở Bạch Vân Am, cách xa Hoành sơn cả 700, 800 km, vậy mà Cụ biết tới giá trị chiến lược của Hoành sơn, hẳn là quan quân nhà Mạc ở Ô Châu Thuận Quảng đã có liên lạc về cho biết tình hình. Nhà Mạc xuất thân đánh cá, quen với đường biển, trong thời Mạc hàng hải giao thương phát đạt, thuyền bè từ Kiến An Hải dương (Dương kinh của nhà Mạc hướng ra biển) men theo bờ biển Ðông đi xuống phía Nam, tới Bình Trị Thuận Quảng không khó khăn...cho nên đường lối phương Nam có thể đã tới tai thầy trò Bạch Vân Am, và sau này, khi Nguyễn Hoàng đi vào Ái Tử thì dân chúng Tống sơn Thanh Hóa, Sơn Nam (Nam định) đi theo hàng ngàn, trong đó có cả người đồng hương Hải dương của Trạng Trình là Nguyễn Ðình Tân cũng vào phò giúp Nguyễn Hoàng (4). Năm 1558 khi Nguyễn Hoàng vào Thuận Quảng thì nhà Mạc đã có mặt ở vùng này dù là cai trị lỏng lẻo...và có thể đưa giả thuyết là quan quân nhà Mạc ở đây đã hợp tác quy thuận chúa Nguyễn. Năm 1572, tháng 7, quân nhà Mạc thừa lúc Trịnh Kiểm mất, vào đánh Thanh Hóa và Quận Lập còn mang thủy binh 60 chiến thuyền vào đánh Thuận Hóa vì Nguyễn Hoàng lúc ấy đã đủ mạnh hùng cứ một phương không theo Mạc mà có theo Trịnh thì cũng chỉ là theo bề ngoài.
Sau năm 1593, nhà Mạc mất về tay Lê Trịnh, nhóm Mạc rút theo hướng Bắc lên Cao Bằng kéo dài thêm 85 năm nữa (1592- 1677) theo lời khuyên của Trạng Trình " Cao Bằng tuy thiểu, khả diên sổ thế " (đất Cao Bằng tuy hẹp, cũng được vài đời), có lần quân Mạc lại về chiếm được Thăng Long (1600), một số khác chạy theo hướng Nam " Hoành sơn nhất đái" như chạy vào Hà Tĩnh, Thuận Quảng. Chúa Sãi (1613- 1635) lấy con gái Mạc Kính Ðiển theo gia phổ họ Mạc Cảnh Huống ở Duy Xuyên, Quảng Nam ( xem Trần Quốc Vượng-Trong Cõi , tr. 194). Ðiều này chứng tỏ triều Mạc và họ Nguyễn có liên hệ và liên kết trong thế chiến lược mà Trạng Trình đã khởi xướng. Theo Phủ Biên Tạp Lục của Lê Quý Ðôn thì Thuận Hóa tk XV mới có 5662 suất đinh và 7100 mẫu ruộng, nhóm nhà Mạc chạy vào cộng với nhóm nhà Mạc ở sẵn Ô châu và đã theo Nguyễn Hoàng, là một thành phần đáng kể (mãi tới 1776 vùng này mới lên được 126.857 suất đinh và 265.507 mẫu ruộng).
Sau này, 1598 khi Phùng Khắc Khoan đi sứ Tầu cho nhà Lê- Trịnh, thì Tầu cũng chỉ phong cho vua Lê chức An Nam Ðô Thống sứ như đã phong cho Mạc Ðăng Dung năm 1541, mà lại còn bắt để đất Cao Bằng Thái Nguyên cho con cháu nhà Mạc là Mạc Kính Cung giữ. Triều Mạc tiếp tục ở đấy 5 đời, có thể lan rộng cả miền biên giới Lạng Sơn Tuyên Quang, có triều chính văn hóa mang theo (như ca nhạc cung đình, dần dần văn hóa Việt Kinh hòa vào văn hóa người thiểu số Tày), chẳng khác gì mấy chục năm Lê -Trịnh ở vùng Thanh Hóa, hợp lý ra thì phải gọi là đời Hậu Mạc trong chính sử Việt !
Một điểm cần nhấn mạnh : Trịnh Kiểm cùng tập đoàn gian ác độc tài hơn nhà Mạc, và sau Lê Thánh Tông, không một ông vua Lê bù nhìn nào so sánh được với đời thịnh trị Mạc Đăng Doanh.
II- ÐÀNG NGOÀI VÀ ÐÀNG TRONG
1- Từ ngày Lê Lợi kéo nhóm Mường ở Thanh Nghệ ra miền châu thổ sông Hồng, thì sự xung đột đã xẩy ra ngay giữa những nhóm thuộc văn hóa khác nhau : nhóm Kinh sông Hồng như Nguyễn Trãi, Trần Nguyên Hãn, Phạm Văn Xảo, cùng nhóm nghĩa quân áo đỏ Thái Nguyên Lưu Nhân Trú ...trước sau bị giết. Ngay lúc đang vây quân Minh ở Ðông đô (Thăng Long) sử chép Bình Ðịnh Vương đặt pháp luật để trị, bắt đầu bằng một dụ cấm tà đạo : ai mà dùng những phép tà ma giả dối để đánh lừa người ta thì phải tội (Trần Trọng Kim tr. 230). Dụ này hẳn là do quân sư Thừa chỉ Nguyễn Trãi viết, mà người sau lấy làm lạ, tại sao giữa lúc kháng chiến vây quân Minh mà lại đưa chuyện " cấm tà đạo" lên đầu? Có thể tìm nguyên nhân từ ngày Nguyễn Trãi và nhóm kháng chiến Trần Nguyên Hãn vào Lam sơn kết hợp: có chuyện sầm xì về tư cách " thiểu số " thiếu văn hóa của Lê Lợi như chuyện quần vén lên tận đùi cắt thịt nhai nhồm nhoàm, chuyện mê tín thần cá quả (ở chân thành quân Minh tại Triều Khẩu, Nghệ An, do Trương Phụ đóng) khiến bà vợ thứ của Lê Lợi là Phạm thị Ngọc Trần phải chịu làm vật tế thần (để con bà được làm thế tử sau này). Phong tục người Mường có khác dân Kinh, đám quân Thanh Nghệ khi ấy hẳn đông đảo Mường, Chàm, Thổ...tuy cùng một bọc trứng, nhưng người Việt kinh ở châu thổ sông Hồng đã kinh qua 400 năm văn minh Lý Trần, ắt khác biệt khá nhiều với đám quân từ miền rừng núi kéo ra. Tài liệu mới đây cho thấy vua Lê Tương Dực (1516) mặc khố trong cung, trong quan tài còn chứa một cái khố...vua quan nhà Lê còn thói quen săn bắn như sống trong rừng núi Lam sơn! (5) .
Có thể vì mâu thuẫn văn hóa cộng với mâu thuẫn phe cánh, khiến Lê Lợi, thay vì dựa vào nho sĩ Việt kinh sông Hồng, lại dựa vào nhóm gốc Tầu vùng Thanh Nghệ có Hán học, như Lương Ðăng, hoạn quan Ðinh Phúc, Ðinh Thắng, bọn dốt nát như Tạ Thanh, Cảnh Xước, Thúc Huệ... làm văn quan, Tể tướng mù chữ như Lê Sát...tài kinh bang tế thế của Nguyễn Trãi không được thi thố, triều đình đổ nát, mãi đến đời Lê Thánh Tôn mới vững vàng, hòa hợp hơn, nhưng vẫn không phục hưng theo truyền thống dân tộc Lý Trần : Nho độc tôn, vua giết thân thích...và đến đời Lê Trịnh thì chứng hư tật cũ của đời Lê Sơ lại tái phát : Chúa giết Vua, bọn lính Kiêu binh Tam phủ phá nát trật tự tôn ty kinh thành.
2- Ðời Lý- Trần, dân tộc gắn bó keo sơn nhờ giây nối tinh thần nhà Chùa, nhờ văn hóa châu thổ sông Hồng kế tục tiên tổ Hồng Bàng với "phép vua thua lệ làng" bảo trì phong tục, nhà Hậu Lê làm suy giảm văn hóa đó 99 năm, nhà Mạc cố phục hưng 65 năm mà không thành công, cho nên khi Lê- Trịnh kéo ra Thăng Long thì nhóm nho sĩ hoài vọng tôn Nho thời Lê Thánh Tôn đã vô tình, và thiển cận, không biết là mình đang phò một tập đoàn hủ lậu tranh chấp mưu đồ từng làm suy thoái văn hóa châu thổ Hồng Hà...có phần nào giống như Nguyên, Thanh, vào thống trị Trung nguyên Hán tộc. Nhìn theo lăng kính ấy có thể hiểu lập trường của danh sĩ Nguyễn Bỉnh Khiêm, một đời phò Mạc và có thiện cảm với Nguyễn hơn là với Trịnh, vì sao ?
- Vì họ Nguyễn Gia miêu, gốc tích từ Nguyễn Trãi, là bộ tộc Việt kinh, mẹ Nguyễn Hoàng lại cùng quê quán với Mạc. Phong tục cổ xưa rất chú trọng tới gia tộc gốc tích nguồn cội, nên cần xét tới khía cạnh này.
- Nguyễn Hoàng được tiếng là người trầm tĩnh, nhân hậu, có chí lớn, mềm dẻo, nhóm Mạc Cảnh Huống đi theo vào Cửa Việt (Quảng Trị), đất cũ của Mạc, không phải là chuyện tình cờ. Mạc Cảnh Huống là em Mạc Kính Ðiển, một cột trụ của nhà Mạc 20 năm chống Lê Trịnh (Ðiển là cháu Mạc Ðăng Dung, con thứ Mạc Ðăng Doanh, mất năm 1580), và chính vợ chúa Sãi (Nguyễn Phúc Nguyên) 1613- 1635, Mạc thị Giai, là con gái Mạc Kính Ðiển. Con gái Chúa Sãi và bà Giai, Ngọc Liên, sau lấy con trai Mạc Cảnh Huống là Mạc Cảnh Vinh (đổi ra Nguyễn Hữu Vinh), tức chú lấy cháu. Ðiều này cũng nói lên nhóm vào Thuận Hóa là một cộng đồng di dân nhỏ, tìm người môn đăng hộ đối gả con cháu cho nhau không phải dễ. Hai gia tộc thượng lưu ở đây, vùng đất mới, chính là họ Nguyễn Gia miêu và họ Mạc.
- Tập tục Mường cổ hủ, từ thời Ðinh Tiên Hoàng, Lê Hoàn, Lê Lợi, chuyện đổ máu thường xảy ra trong triều đình, giữa thân thích, ngay cả vua Lê Thánh Tông cũng rất hiếu sát: giết đại thần Lê Lăng, giết anh ruột Cung vương Khắc Xương, chém 4 vạn thủ cấp Chàm ! cấm xây Chùa, nhưng tà đạo, thày mo thày cúng, nhan nhản...đạo Phật bị suy thoái ở miền Bắc, đồng cốt buôn thần bán thánh, chùa chiền quán đạo biến thể ra mê tín dị đoan, trong khi các Chúa Nguyễn, cùng chiều hướng với nhà Mạc, biết gìn giữ và phát huy Phật giáo, làm cơ bản gốc rễ dựng nước, cửa biển Hội An giao thương với Tầu, Nhật, mang đến cho đàng trong những cao tăng hoằng pháp chân chính. Có thể ví đàng ngoài như cây cổ thụ lâu ngày bị mối mọt đục khoét suy tàn, đàng trong mở ra một vùng đất mới, vun trồng cây mới, tiếp cành nảy nở mạch sống dân tộc. Cho nên việc phục hoạt tinh thần Lý Trần của nhà Mạc thất bại ở miền Bắc thì lại được nhà Nguyễn tiếp tục ở miền Nam, vua Lê chúa Trịnh đi lạc đường thì Chúa Nguyễn lại đi đúng đường...từ thế kỷ XVII trở đi, bó đuốc nhà Mạc tắt thì lại được nhà Nguyễn thắp sáng ở đàng trong...Chúa Tiên phải được coi như một ông tổ Hùng Vương dựng nước thứ hai của Việt tộc và lời Trạng Trình " Hoành sơn nhất đái, vạn đại dung thân", không những là lời khuyên cho chính sinh mệnh Nguyễn Hoàng mà phải hiểu là nhận định tiên tri đại vận Việt tộc ngũ bách niên hậu (tk XVI tới tk XX).
Việc coi nhẹ khoa cử của các chúa Nguyễn là một ưu điểm hơn là khuyết điểm: năm 1646 chúa Nguyễn Phúc Lan mở một khoa thi đầu tiên, năm 1695 chúa Nguyễn Phúc Chu mở khoa thi Ðình khảo hạch chính các quan đang tại chức, nhưng suốt 200 năm các chúa Nguyễn không tổ chức các khoa thi giống thi Hội thi Ðình như đàng ngoài, nhưng lớp trí thức thì vẫn có, tự học như Ðào Duy Từ, mà đầu óc không "kiến chấp" trói buộc vào Tứ thư Ngũ kinh, khiến lớp trí thức tân quốc Việt đàng trong đầu óc lại thoáng, rộng, bình dân, tương tự trí thức Việt đời Lý, đời Trần, phải chăng nhờ đường lối giáo dục viên dung phá chấp của nhà Chùa ? Lê Quý Ðôn phải lấy làm lạ : ..." Họ Nguyễn xưa cai trị một phương, không chuộng văn học nhiều...vậy mà văn mạch một phương, giằng dặc không dứt..." ông kể các danh sĩ đàng trong như : Nguyễn Cư Trinh, Nguyễn Quang Tiền, Nguyễn Ðăng Trịnh, Ngô Thế Lân...
3 - Có liên hệ nào giữa Nguyễn Kim, Nguyễn Hoàng và dòng họ Nguyễn Phi Khanh, Nguyễn Trãi ở phương Nam không? Theo gia phả học gần đây thì một người con út của Nguyễn Phi Khanh, em Nguyễn Trãi, là Nguyễn Phi Tu đã cùng người con trai chạy trốn vào vùng Quảng Nam sống lẩn lút với người Chiêm khi Nguyễn Trãi bị tru di tam tộc, năm 1442 (6). Dòng Nguyễn Phi này là di dân Việt sớm nhất vào miền trong, tới đời Nguyễn Hoàng, đã là hơn 100 năm, và rất có thể đã chắp nối liên lạc với gốc họ Nguyễn ở Tống Sơn Thanh Hóa, vốn cùng ông tổ Nguyễn Phi Khanh. Thời xưa, mối quan hệ dòng dõi gia tộc chẳng những chặt chẽ mà còn thiêng liêng, nên chúng tôi đưa ra giả thuyết về yếu tố thúc đẩy Nguyễn Hoàng xin vào trấn thủ Thuận Quảng: vì lời khuyên chiến lược sinh tồn của Trạng Trình cộng với liên hệ họ hàng sẵn có qua dòng Nguyễn Phi ? Dù sao, thì dòng họ Nguyễn của Nguyễn Trãi đã là dòng họ tiên phong dựng nghiệp mở mang mảnh đất phương Nam cho cả dân tộc có gấp đôi đất để vạn đại dung thân vậy!
III-TỪ CHÚA ÐẾN VUA NGUYỄN
Miền Bắc, nhà Mạc bị Lê Trịnh lật, thì miền Nam, Chúa Nguyễn bị Tây sơn đuổi. Bốn thế lực tranh chấp từ tk XVI- XVIII đưa tới bàn cờ " tam liệt ngũ phân" hoặc " ngã bát thế chi hậu, binh qua khởi trùng trùng" như Trạng Trình tiên liệu. Hơn hai trăm năm này là cơn sốt vỡ da của đất nước đang thành hình, đang chuyển hóa từ cũ sang mới, từ hẹp sang rộng, từ ít sang nhiều. Vùng Thuận Quảng khởi đầu với dân số ít ỏi từ Tống Sơn Thanh Hóa cộng với một số dân, binh, vùng Sơn Nam. Nguyễn Hoàng ra Ðông đô, 1593, giúp Lê Trịnh dẹp dư đảng Mạc và bị Trịnh Tùng giữ lại suốt 8 năm, năm 1600 Nguyễn Hoàng lấy cớ đi dẹp loạn ở vùng Nam Ðịnh rồi rong buồm thẳng vào Thuận Hóa, đây hẳn là thời điểm để quan quân tông tộc nhà Mạc và dân chúng theo chúa Nguyễn chạy vào Thuận Quảng tránh bọn Trịnh Tùng kiêu căng. Tù binh nhà Mạc (sau trận đánh 1572), tù binh quân chúa Trịnh từ miền Bắc (3 vạn người năm 1648), nông dân bị bắt (1655 chúa Nguyễn đánh ra 7 huyện nam sông Lam, Nghệ An) là những bàn tay khai khẩn đàng trong, cùng với thổ dân Chàm, Chân lạp. Từ ngữ đàng trong mang nhiều ý nghĩa: trong Nam ngoài Bắc, trong như trong nhà, trong như trong hang trong núi (nơi ẩn trú)...và rất có thể mang ý nghĩa trong vùng chính thống nếu so với Trịnh vốn không được lòng dân, ức bách vua Lê, và đi lệch văn hóa Lạc Việt. Họ Nguyễn Gia Miêu không thể quên cái họa họ Trịnh chỉ chờ cơ tiêu diệt mình và họ Trịnh thì chuyên quyền khuynh loát, có khi giết cả vua Lê (như giết vua Lê Anh Tông 1573, Lê Duy Phường 1732). Có thể vào thời ấy, Trịnh bị coi là ngụy quyền và chúa Nguyễn tự coi mình là chính thống đàng trong giữ truyền thống nước chăng ?
* NGÔI SAO NGUYỄN HUỆ : MỘT KẾT TINH CỦA TÂN QUỐC VIỆT
Giữa lúc Lê Trịnh và Chúa Nguyễn suy thì ngôi sao Nguyễn Huệ nổi lên đóng vai trò lịch sử cứu quốc chống Thanh, dẹp Xiêm, chỉ tiếc rằng triều đình ngắn ngủi Bắc Bình Vương bị chính ngay hai huynh đệ thiển cận Nguyễn Nhạc, Nguyễn Lữ làm hỏng dải đất miền Nam. Nguyễn Huệ là một thiên tài quân sự có tư cách lãnh tụ: phải rất tự tin mới dám dùng người giỏi, phải rất hào hiệp mới thu phục được nhiều danh Nho như Trần văn Kỷ, Nguyễn Thiếp, Ngô Thời Nhiệm, Phan Huy Ích...chỉ có 5 năm, 1787 tới 1792, Quang Trung đã đạt được nhiều thành tích chẳng kém nhiều đời vua Lê chúa Trịnh : Chiếu khuyến nông, chiếu lập học, chiếu cầu hiền, dùng chữ Nôm, Sùng chính viện, tổ chức quân đội, ngoại giao khôn khéo với Tầu, với Tây, đối xử công bằng với tôn giáo...cả một xu hướng mới, tích cực, không mang mặc cảm thua sút Tầu, được triều đại Quang Trung thổi trên đất Việt suy tàn cũ kỹ : nhà Nho Ngô Thời Nhiệm ý thức hướng chuyển hóa : "...Việc nên làm, đó là việc nông, công, thương, há nhà Nho ta không nghĩ đến hay sao?" , cuốn sử lớn Ðại Việt Sử Ký Tiền Biên, tu chỉnh lại Ðại Việt Sử Ký Toàn Thư, được hoàn thành trong thời mới này, với nhiều quan điểm lịch sử tu chỉnh đứng đắn. Riêng những lời cuối của Quang Trung dặn dò tả hữu đề phòng lực lượng Nguyễn Ánh và Tây phương ở Gia định, " nếu không các ngươi sẽ không có đất mà chôn" cho thấy Nguyễn Huệ có viễn kiến rất lớn và đánh giá rất đúng lực lượng địch thủ như ông từng đánh giá bọn quân Tôn Sĩ Nghị " chỉ trong 10 ngày ta sẽ quét sạch quân Thanh ". Sự nổi dậy của Tây sơn vào cuối tk XVIII cho thấy tân quốc đàng trong đã thật sự thành hình, đã dựng được những khối văn hóa mới, và nhất là đã có những khối dân Việt mới từ Thuận Quảng xuống tới Hà Tiên. Cơn sốt mâu thuẫn không thể tránh giữa những quyền lực, bây giờ quyền lực Nguyễn đã thành cũ, cứng đọng, mà thế Tây sơn là quyền lực mới, lấy bàn đạp bình dân, dấy lên mạnh mẽ, thổi tung cả quyền lực Lê Trịnh đàng ngoài vốn cũ kỹ hủ lậu hơn cả Nguyễn ở Phú Xuân. Sự nổi dậy của Tây sơn là dấu chấm hết của nước Cổ Việt, chuyển trọng tâm nước Việt từ Thăng Long vào Phú Xuân, chặng cuối cổ sử Lê-Trịnh Nguyễn đến bước ngoặt, Nguyễn Huệ là nhân vật mở đầu thời cận đại cuối XVIII sang XIX, như cách mạng 1789 chấm dứt thời đại phong kiến bên Pháp. Sau này, 60 năm Triều Nguyễn tuy cố nối dài thời cũ nước cũ tiền 1789, nhưng rõ ràng lịch sử đã sang trang, khung nhà cũ, đường lối cũ không thể thích hợp với nước mới, dân mới, thời mới. Nguyễn Huệ có thể so với tướng quân shogun Hideyoshi của Nhật Bản : giá ông sống thêm mươi năm, thì tân quốc Việt thống nhất đã có thể dựng được một cái nền dân tộc mới, hùng mạnh để có sức đương đầu với ngoại xâm tk XIX. Ðiểm đặc sắc của Nguyễn Huệ là ông mở nước bằng chiến thắng ngoại xâm nên kéo cả dân tộc khỏi mặc cảm đối với Tầu, lại biết xây dựng giang sơn theo hướng tự chủ đoàn kết khai phóng, một nhân vật như vậy rất hiếm có trong Việt sử.
* NHÀ NGUYỄN VÀ NHỮNG ÔNG VUA TỐT
Trong hơn 140 năm, 1802- 1945, nhà Nguyễn là triều đại đầu tiên thống nhất Việt Nam từ ải Nam Quan đến mũi Cà Mâu. Các vua Nguyễn nếu không là minh quân thì cũng chẳng có ai là hôn quân bạo chúa, có điều vua Gia Long lỡ dựa vào lực Âu Tây để lấy lại cơ đồ, nên rất khó chặn được làn sóng tôn giáo và thực dân rất mạnh của thế kỷ XIX. Ðấy là khó khăn bên ngoài mà liên tiếp ba đời vua Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Ðức đã không gỡ được, trong lúc nội bộ lại thống nhất chưa xong, quy tập toàn dân không được vì toàn dân chưa thành một một khối thuần nhất:
a- Khó khăn về quần chúng : nước Việt mới, rộng lớn, triều đình Huế khó lan tỏa quyền lực nhất là ra miền đất cũ, dân chúng và triều đình chưa tin cậy nhau, dân Việt còn trong giai đoạn phân hóa : nhà Lê cũ, nhà Tây sơn và nhà Nguyễn mới, lại thêm dân tộc chia ra làm lương với giáo, với sự hiện diện đông đảo, dù có cấm, của các giáo sĩ Tây phương rất quyết tâm và giầu phương tiện. Một ông vua anh tài như Minh Mệnh trong 20 năm cố gắng vẫn chỉ biết noi theo đường lối phong kiến cũ: bành trướng đất đai, triệt hạ nền cũ (như phá thành Thăng Long cũ, xây thành nhỏ hơn, đổi tên mới Hà Nội, Bắc Ninh...xử tội Lê Văn Duyệt 1832 lấy hết đất của người Chàm ở Phan Rang Phan Rí..) mà không khôn khéo thu phục nhân tâm, lại không nhìn xa thấy rộng, không lượng thế mình và thế Tây phương.
b- Ðến đời Tự Ðức thì nhà Nguyễn bị suy tàn, sự suy tàn của chính hệ thống vua quan Á đông nói chung, của chính tầng lớp cai trị dựa trên Tứ thư Ngũ kinh do khoa bảng tạo nên, không giúp được dân mà cũng chẳng giữ được địa vị, nói khác đi, không đóng được vai trò lịch sử của thế kỷ mới. Tính ra có tới hơn 350 cuộc dấy loạn của dân chúng, xã hội từ Nam chí Bắc đầy bất công tham nhũng, nghèo đói, dịch bệnh (1826 ở Nam bộ bệnh dịch làm chết 18,000 người, năm 1820 và 1840 hai trận dịch làm dân Bắc- thành chết khoảng 200,000 người), lưu tán (nạn đói 1858 ở Hà Nội làm dân bán mình bán con, cả 3 vạn người đi ăn xin!) miền Nam đào kênh Vĩnh Tế năm 1819, làm 7000 ngàn phu phen chết, triều đình thì lại lo xây lăng tẩm, đồn lũy, làm hao hụt công quỹ và kiệt quệ sức dân. Phản ứng của Cao Bá Quát nói lên ý thức canh tân của trí thức Việt Nam vào thời Tự Ðức, đồng thời phơi bày sự co cụm của triều đình hủ lậu từ chương vào quanh kinh đô Huế, khiến cả nước thiếu hẳn sinh khí dân tộc thống nhất để chống trả ngoại xâm.
Mỹ ý của vua Minh Mệnh thời đầu, chiêu dụ nhân sĩ miền Bắc, như mời Phạm Ðình Hổ làm tế tửu Quốc Tử Giám, thâu thập sách vở tư gia...bình dị đón tiếp mấy ông già Ba Tri đi bộ ra Huế kiện cáo (về vụ chợ búa kênh đào -theo truyền thuyết)...không được tiếp tục về sau, đến đời Tự Ðức, thì việc cai trị dẹp loạn ở miền Bắc hầu như trao hẳn cho các quan quân xuất thân vùng Thanh Nghệ Tĩnh (như quân Thanh Nghệ ra dẹp Cao Bá Quát, dẹp giặc Tạ Văn Phụng...), tạo ra mặc cảm nghi kỵ nhau giữa các địa phương, mãi tới thời Bảo Ðại mới thấy có một nhân vật miền Bắc là Phạm Quỳnh vào làm tứ trụ ở Huế, mà cũng do áp lực xếp đặt của Pháp! Sự chống đối triều đình Huế của dân chúng và sĩ phu miền Bắc khởi nguồn từ chính sách đối nội vụng về thiên lệch ấy, so với Nguyễn Huệ, cũng là một nhân vật đàng trong, thì dân chúng miền Bắc có phần kính phục hơn. Hệ quả tai hại là nước đục thả câu, Tây phương gậm nhấm dần dần quần chúng nghèo đói miền Bắc cần " lấy gạo mà ăn", họ xây dựng cứ địa, tạo làng xóm riêng, làm bàn đạp cho thực dân sau này.
c- Ở Á Ðông, chỉ có Thái Lan và Nhật Bản đứng vững trước bão táp Thực dân nhờ biết uyển chuyển đổi mới. Thái Lan sẵn có gốc rễ Phật giáo thuần hòa lại biết lợi dụng hai thế lực mâu thuẫn nhau là Anh và Pháp để đứng giữa, nhất là Anh luôn luôn luôn ngăn chặn Catholics Pháp, Bồ Ðào Nha, Tây Ban Nha. Nhật Bản có sẵn căn cơ bản lĩnh văn hóa, có sẵn một lớp Võ Sĩ đạo quyết liệt yêu nước, không bị tê liệt hủ lậu tự cao tự đại với Tống Nho, cho nên đổi mới kịp thời thành một cường quốc. Trong lúc ấy, ta và Tầu khinh khi Tây phương là Bạch quỷ, tự đắc với quá khứ " đầu tiên chế ra thuốc súng" mà không chịu nhìn nhận tình trạng lạc hậu chậm tiến!
d- Nói như trên, có chê trách là chê trách giới sĩ phu hủ lậu Việt -Tầu thế kỷ XIX, chứ không thể đổ lỗi lên đầu các vua Nguyễn là những ông vua tương đối tốt, không có ai giống vua heo vua quỷ như đời Hậu Lê, không có ai bán nước cho Tầu cho Tây. Việc thống nhất nhân tâm toàn quốc đòi hỏi thời gian và đòi hỏi một tập đoàn lãnh đạo tài giỏi. Các vua Nguyễn không tạo dựng được một tập đoàn mức ấy và cũng không đủ thời gian để kiến quốc. Tương tự nhà Mạc 66 năm gặp 47 năm loạn, nhà Nguyễn cũng 60 năm thì vừa nội loạn vừa ngoại xâm, khiến mọi việc xây dựng bị phá đổ trong ngoài. Làm sao chống Pháp khi Hoàng Diệu bị bọn phản quốc nội ứng đưa 200 quân Tây vào hạ thành Hà Nội? làm sao giữ được nước khi giới sĩ phu chỉ trông vào Tầu mà chính Tầu cũng đang bị Tây phương chèn ép đánh phá ?
e- Ông vua chót, Bảo Ðại, hơn hẳn Phổ Nghi nhà Thanh, và công nghiệp của ông cần được chuẩn định lại. Sử sách chỉ nhìn thấy khúc thất bại của ông mà quên khúc thành công của ông. Không có Bảo Ðại thì không có một quốc gia Việt Nam chính đạo cờ vàng, nối tiếp Ðinh Lê Lý Trần Mạc Nguyễn...ông là người duy nhất có tư cách pháp lý lãnh đạo Việt Nam thời 1940- 50 và ngay cả về sau. Ông đã tạo được một chính quyền từ Hà Nội đến Sài Gòn, chính quyền Việt Nam đầu tiên có mặt ở Liên Hiệp Quốc, không có ông thì toàn quốc đã bị nhuộm đỏ từ 1945 và cơ đồ dân chủ tự do không có cơ nhen nhúm để bùng lên khá mạnh, giữ được nước suốt 30 năm. Sự thất bại của phe quốc gia, giống như thời Tự Ðức, nghĩa là vua thì không tệ, nhưng tả hữu thì thiếu người có khả năng cao để đáp ứng với thời cuộc quốc tế mới. Những nhân sĩ như Trần Trọng Kim, Bửu Lộc, Nguyễn Văn Tâm, Trần Văn Hữu...các vị Thủ Hiến, rồi Ngô Ðình Diệm...không đủ tài ba để giúp một ông vua cỡ trung bình chống trả với những thế lực quốc tế, quá mạnh, quá lớn. Bảo Ðại đã làm hết sức của ông, ông đã dành được độc lập dù là độc lập bước đầu với Pháp, không thể trách ông sao không chống được Cộng sản vì chính Pháp, Mỹ, và Tây phương còn để mất cả Ðông Âu cho Stalin! Tưởng Giới Thạch làm mất cả Hoa lục cho Tầu Cộng! Giả dụ không có phong trào Cọng sản quốc tế Nga Tầu, thì giải pháp quốc gia từ 1949 dần dần có thể hoàn chỉnh, tránh được bạo lực quốc tế gieo họa lên đất nước. Có điểm đáng bàn thêm, là giả dụ ông Ngô Ðình Diệm áp dụng lời khuyên của Trạng Trình " ở giáo đường, thờ Chúa được ăn bánh thánh", thì rất có thể miền Nam quốc gia, với uy tín của Chúa Nguyễn Bảo Ðại, đã có thể tránh được tranh chấp và vững vàng hơn không ? Những điểm chê trách Bảo Ðại và chê trách phe quốc gia như : tham nhũng thối nát, phong kiến, xa dân, độc tài...đều có phần đúng nhưng đem so tương đối với các nước chậm tiến khác, với các chế độ khác, ở thời điểm ấy, thì cũng không thấy tệ hơn, và riêng việc đấu tố giết người hàng triệu, có chính sách hệ thống triệt hạ giai cấp quy mô thì Bảo Ðại và chính quyền quốc gia chắc chắn không ghê gớm bằng Stalin, Mao, Pol Pot...và Bảo Ðại rõ ràng không tham quyền cố vị như Castro, Mao, Kim, Hồ...hay so ngay với Tưởng, Marcos....Bảo Ðại tuy thiếu ý chí nhưng là người khôn ngoan : không phe nào lợi dụng được ông, Cộng, Thực, Pháp, Mỹ, lẫn cả bầy thân cận giá áo túi cơm...Ông giữ tư cách khi làm vua và làm quốc trưởng, không xin xỏ quỵ lụy ngoại bang, không thấy ông ra lệnh thủ tiêu ai, giai nhân mỹ nữ thì nhiều nhưng chưa từng thấy ông sai khuyển mã sát hại phi tang ...ông xứng đáng là vị Chúa Nguyễn cuối cùng của nhà Nguyễn và có lẽ là nhân vật lịch sử rất triết lý (philosophe) của thời đại : ông nhìn ra ma lực chính trị thế giới, ông nhìn ra ma giáo trong và ngoài, ông không hám danh, biết thế mình yếu nên thoát ra một bên. Có ngôi báu mà dám vứt bỏ như đôi dép nát, có cờ quạt mà không thèm múa rối như phường tuồng, ông là ông vua không làm nhục nhà nhục nước.
***
Nhìn lịch sử VN hiện đại, nửa thế kỷ nay, giới trí thức Việt đa số cũng lại là lớp tân hủ nho, tuy tiến bộ hơn thời Tự Ðức, nhưng không vọng Mác Lê của Nga-Do Thái thì lại vọng JJ Rousseau, Montesquieu của Pháp, không mấy ai phá chấp nhìn ra chân trời phát triển kinh tế nhân bản thực tế của Anh Mỹ nở rộ quanh Hương Cảng, Thái Lan,Tân Gia Ba, Nhật, Ðài Loan, Ðại Hàn... rút cuộc dân tộc chính thống Việt phải lan ra hải ngoại mà trì phục. Nhưng quốc kế hoành sơn nhất đái, cho dù có chuyển ra hải ngoại dung thân, thì tất cũng có ngày nhiễu nhiễu xuất đông chinh, tái dựng cơ đồ ngũ bách niên thiên hạ như Trạng Trình viễn kiến.
Bao năm qua, dân Việt không được hưởng thanh bình chỉ vì hai chữ thống nhất bị các phe phái phong kiến hiểu là nhất thống thiên hạ, trong khi tinh thần thống nhất chân chính phải là rộng lượng chấp nhận dị biệt đa tạp trong một khối dân chủ liên bang, tỷ như bàn bài, một người cố vị làm nhà cái mãi, tức là nhất thống kiểu phong kiến chuyên chế, còn như bàn dân thiên hạ được chia phiên thay nhau làm cái, thì mới đích thực là thống nhất theo tinh thần dân chủ tự do dân vi quý vậy.
LƯU VĂN VỊNH 7-03
Friday, November 30, 2012
Cao Bá Quát Bất Phùng Thời
NỖI HẬN LÒNG CHIM TINH VỆ
Huyền sử chép : Công chúa Nữ Oa, con gái út vua Viêm Đế Thần Nông, tổ của Viêm Việt, đi chơi ở biển Đông bị chết đuối nên uất hận, biến thành chim Tinh Vệ, ngậm đá và gỗ từ núi phía Tây mang ra lấp biển Đông. Chim Tinh Vệ, chân đỏ, mỏ trắng, đầu chim sặc sỡ mầu sắc, trở thành huyền thoại văn chương , như Nguyễn Du tả hồn oan của nàng Kiều :
Tình thâm bể thảm lạ điều
Mà hồn Tinh vệ biết theo chốn nào ( câu 2971-72)
Câu đối cụ Phan Bội Châu điếu Phan Chu Trinh :
Thương hải vi điền, Tinh vệ hàm thạch
Chung Kỳ ký một, Bá Nha đoạn huyền
(Biển thẳm chưa lấp bằng, Tinh Vệ ngậm đá- Chung Kỳ đã mất, Bá Nha đứt giây đàn).
(Tích Tinh Vệ điền hải hay Tinh Vệ hàm thạch ghi trong thiên Bắc Sơn kinh sách Nam Hải Kinh đời Tiên Tần.)
Lại có huyền thoại cho rằng Tinh Vệ là Nữ Oa, là em gái và lấy Phục Hy, sinh ra loài người nam nữ, tạo thiên lập địa, về sau Thần Lửa và Thần Nước đánh nhau làm sạt lở một góc Trời, khiến bà Nữ Oa phải dùng 4 chân rùa và nấu chảy đá ngũ sắc để vá trời !
Ca dao hát đố của ta có bài :
...Kìa ai đội đá vá Trời
Kìa ai trị thuỷ cho đời được yên ?
...Bà Nữ Oa đội đá vá Trời
Vua Đại Vũ trị thuỷ cho đời yên vui
Cao Bá Quát mang tâm sự lớn và não nùng uất hận đó : tài có, chí có, mà Thời không có, Trời sinh thanh bảo kiếm mà lại dùng vào việc cắt tiết gà, thi thánh mà làm việc thư ký quèn xếp sách cho mấy ông vua từng giam mình vào ngục, đeo gông, bị đánh đập gần chết...thì còn tệ hơn thân phận Hàn Tín phải làm anh chấp kính lang coi kho thóc !
Cao Bá Quát mất Thời, vì nước Đại Việt đã chấm dứt ở Thăng Long từ 1789, Huế là nước mới của người mới như bà Huyện Thanh Quan tâm tình “ Nhớ nước đau lòng con quốc quốc”, trí thức miền Bắc cổ Việt mất Thời mất Thế, chỉ cố tìm cái Cơ, 300 cuộc nổi loạn ở miền Bắc trong đời Nguyễn chính là cái Cơ phản kháng của khối dân nước cổ Việt bị mất Thế !
Nhưng Cao Bá Quát cũng ý thức rõ ý nghĩa nhân sinh, ông không vị danh như Nguyễn Công Trứ, phượng hoàng không gia nhập bữa tiệc tàn nhạt nhẽo của nhóm gà ri chim chích, ông ôm hận nuôi chí, chẳng làm chuyện thật lớn thì chí cũng phải thật lớn, phản kháng như cách tẩy nghiệp, nổi loạn như cách tìm lẽ sống cho mình và cho người. Tâm Bồ Tát Duy Ma, chí vời vợi Nghiêu Thuấn Võ Thang, họ Cao có tài thi thánh cộng với chí trượng phu, như chiến mã xông pha nhảy vào lửa chứ không chịu đứng yên trong máng nhai văn nhá cỏ. Cao Bá Quát muốn đội trời đạp đất, muốn thế thiên hành đạo, tài có, chí có, thế một con chim Tinh Vệ tha đá lấp biển, thế đội đá vá trời…tận kỳ tính, hết lòng hết sức, dẫu là lấy trứng chọi đá, không thành công thì thành nhân, đấy chính là giá trị của nhân cách, đấy chính là bó đuốc chưa tàn trao truyền hậu thế.
Huyền thoại Chim Tinh Vệ rõ ràng hàm chứa một khoảng cổ sử Việt, Thần Nông là Viêm Đế, là tổ Lạc Việt, con gái út vì sao đi chơi biển Đông để bị chết đuối ? phải chăng huyền thoại hàm ý nòi Lạc Việt bị giống Hán du mục Bắc phương xâm lăng, chạy xuống biển Đông, có nhóm di tản sang Nam đảo, sang Mã Lai, gần nhất thì cũng tứ tán táp vào Hạ Long/Hồng Hà…nỗi hờn vong quốc- nước cũ Động Đình Hồ- không bao giờ nguôi, bộ tộc Việt tan tác nhưng nếu mọi người đều nuôi chí lấp sông lấp biển như Tinh Vệ-bảo vệ tinh thần Việt- thì Việt có mất đất nhưng không bao giờ mất hồn.
OAN-OÁN
Giải Oan Cõi Thế
Cho Người Thiện Tâm
Thương thay Chí Thiện
Xích sắt triền miên
Miệng không nụ cười
Mắt nổ oan khiên
Sống chẳng được yên
Hoả lò đao phủ
Cổ vướng búa liềm !
Cổng Trời Việt khép
Chịu phép yêu tinh
Cổng Chúa mở rộng
Vòm sao thiên đình
Thiên đàng Cực lạc
Nằm ngắm trăng sao
Nương hào quang Thánh
Lên đỉnh mây cao.
Anh gõ cổng Trời
Vang lừng diệu âm
Ngân nga bác ái
Chuông reo thiện tâm
Nhân sinh bi kịch
Càn khôn đảo điên
Sinh nhầm địa giới
Chết cạn ưu phiền
Thiên đàng Cực lạc
Lung linh huyền không
Hoan lạc quốc độ
Duyên khởi mênh mông.
Quy tâm thiên lý
Tam giới lưu ly
Trần gian ác mộng
Việt quốc ma cung
Hoá xong một kiếp
Vô thuỷ, vô chung.
Hạ Long Bụt sĩ
Subscribe to:
Posts (Atom)

