Thursday, April 29, 2010

TÔN CHỈ TỊNH KHẨU PHÁP MÔN




Mở cổng vào vườn Thiền
Thích hợp căn cơ tính tình người VIỆT


Nhà Phật cho rằng mỗi người hãy tự thắp đuốc lên mà đi, 84000 pháp môn..tùy căn cơ mà lựa chọn, tùy mức độ mà tu tập..Ở Việt Nam, Thiền và Tịnh song tu, tuy nhiên Thiền nghiêng về giới trí thức, Tịnh thích hợp cho bình dân, miễn sao đạt tới tâm bất loạn là nhập vào Thiền, giác ngộ, thấm nhuần lời Phật dậy, thân tâm an lạc.
Xét ra, người Việt, tính tình dân xứ nóng nhiệt đới, nóng nảy, thích phát ngôn, khoe khoang hý luận, hay gièm pha chê bai hơn khen ngợi tán thưởng, so sánh phân bì theo cảm tính, lại thêm thời đại truyền thông, với truyền hình, truyền thanh, mạng lưới điện tử..tạo KHẨU NGHIỆP rất nặng, khiến dân Việt, sau cơn bão ý thức hệ và loa tuyên truyền ác khẩu, kiến chấp tràn ngập tâm ý, do đó tâm viên ý mã, khó đạt thiền định và thiền quán.
Vì thế thiết nghĩ, TỊNH KHẨU là pháp môn cần cho người Việt, giúp cá nhân an lạc, giúp xã hội hòa hợp, giúp thế giới an bình. CHÍNH NGỮ, CHÍNH NGÔN, không nói lời thêu dệt, không nói lời gièm pha, không nói lời độc ác, chỉ cần nói với nhau những lời êm đẹp, cũng đã là bước đầu xây dựng thiên đường cực lạc dưới thế.

Tôn chỉ Tịnh Khẩu Pháp Môn :
Không nói, chỉ nói khi cần thiết,
Nói càng ít càng tốt, nói lời nào, lời ấy phải là ái ngữ.
Tránh nói nặng , trách móc, dè bỉu chê bai.
Tập khen người, đừng sợ khen người là làm người khác cao hơn mình, hoặc làm mình thua kém người.
Ngẫm nghĩ nhiều lần trước khi nói : mồm miệng là khí giới, lời nói là viên đạn, viên đạn bắn người và bắn cả mình, đều tạo khẩu nghiệp, gây phiền não khổ ách cho người , mang lại quả báo không dứt.
Khi cần biện luận, noi gương Phật và các tổ sư, giữ hoà khí, dùng từ ngữ ôn hoà lịch sự, tìm hiểu mức độ hiểu biết của người trước khi tranh luận với người, người đến để tìm hiểu sự thật khác với người đến để tranh luận hơn thua. Mục đích của biện luận là soi sáng chân lí chứ không phải là bôi đen đối tác.


Kinh Phật có tác dụng thanh tịnh tâm trí, nay vừa đọc kinh, vừa ghi khắc gương Tịnh Khẩu bàng bạc trong hành xử của Phật, Bồ tát và các tổ sư, sẽ làm hành giả vào Thiền dễ dàng hơn.

Ghi chú : Tam giáo Viễn Đông gồm Nho sĩ, Đạo sĩ, nay xin thêm từ Bụt sĩ cho viên mãn công đức.

Vạn Pháp Dung Thông Trường

VẠN PHÁP DUNG THÔNG TRƯỜNG

VẬT LÝ PHÁ CHẤP-
VŨ TRỤ HOA NGHIÊM-
THỦY THIỀN DO THÁI
* Bụt Sĩ LƯU VĂN VỊNH

VẬT LÝ PHÁ CHẤP

Điều kiện cần yếu để phát minh sáng tạo, theo A. Einstein, là tâm tư ngoại lệ, không chấp trước, không thành kiến, tự do tưởng tượng, vô bờ, fantaisies, chứ không phải kiến thức đầy đặc thành khuôn nếp trong đầu, ông từng nói : " I am enough of an artist to draw freely upon my imagination...the gift of fantasy has meant more to me than my talent for absorbing positive knowledge ", không tự do thì không có sáng tạo, không phá chấp, thì không thể chuyển hóa, cho nên giống như Phật pháp, cần phá chấp, không biên kiến, không bị kẹt vào có với không, nhỏ với to, cao hay thấp, tất cả chỉ là những danh từ, những kiến chấp, rất tương đối.

Không có biên giới giữa các sinh vật, con khỉ Ngộ được Không, cũng thành Tôn sư đại thánh, cho đến ma nữ yêu tinh...cũng chẳng sai biệt, quốc độ của họ còn nặng nghiệp, nhưng chẳng khác nhau bao nhiêu, cho nên nếu tu tập tinh tấn, chưa tới mức thiên nhãn, thiên nhĩ như Bồ tát, thiện nhân vẫn có thể "chiếu yêu kính" nhìn ra chân tướng, nghe được tiếng tạp giới chúng sinh...Cho nên tác giả Liêu Trai Chí Dị xóa hết bức tường chia cách: dạ xoa, chồn, cáo...vẫn có thể biến hóa, lấy người, yêu người, trong một khoảnh khắc kiếp hồng nhan...bông hoa, cánh bướm, thậm chí sâu bọ, cũng mang Phật tính, vũ trụ phá chấp, chúng sinh đồng nhất thể, người trần mắt thịt, làm sao biết cỏ cây sỏi đá vô giác vô tri ?
A. Einstein đã đi vào lộ trình phá chấp của Phật pháp, vạn pháp duy tâm tạo, tất cả Tứ đại-đất, nước, khí, lửa- vạn pháp giai không cũng được, mà vạn pháp giai hữu cũng được, " có thì có tự mảy may, không thì cả thế gian này cũng không" người bình dân VN ai cũng thuộc lòng thấm thía câu đó, hẳn nhà bác học Do Thái kia cũng đốn ngộ bừng thấy lý phổ quát tương đối trong vũ trụ, chẳng có lực nào riêng rẽ, cho nên, vật chất mới hóa thành năng lượng, được vận tốc ánh sáng bốc lên : E= MC 2, vũ trụ tam thiên đại thiên thế giới này, ống kính Hubbles thiên văn thấy là đa vũ trụ, toàn pháp giới Vô Lượng Quang tử, ánh sáng big bang, ánh sáng cong, ánh sáng xoáy vòng vào thiên ngục black hole...Nam mô A di đà...Amitabha, chỉ là cái tên cho nhân gian hiểu, thật ra, trên bình diện vũ trụ, nghĩa là quang tử, là photon, là quantum...gì gì nữa, vô lượng, vô khả luận...
Đã là vô lượng quang Amitabha, thì làm gì có không gian giam hãm, làm gì có thời gian non hay già...không đến, không đi, không còn, không mất, không nhơ, không sạch...cho nên cả vũ trụ có thể chứa trong một lỗ chân lông Bồ tát, tất cả ba thế giới trên đầu một hột cải...cái to trong cái nhỏ, cái nhỏ trong cái to, lớp lớp như những mảnh kính mảnh gương soi chiếu muôn chiều vô lượng...ánh sáng trong tâm cũng là ánh sáng trong vũ trụ và ánh sáng quanh mặt trời cũng chỉ thu vào đồng tử một con mèo...vi quang tử, photon, boson, vi tử Hoa nghiêm, nở trùng trùng hun hút vào chốn thiên thai, không gian mấy chiều cũng được và thời gian muôn ngả cũng vẫn đứng yên vì chiếc thảm thần tiên bay cùng vận tốc với cả giải ngân hà trăng sao... tại sao loài người thắc mắc về durée của đời sống, khi cõi tâm có tốc độ nhanh bằng hay hơn điện từ trường? nhảy một bước, như Tôn Ngộ Không, nhảy hai bước, từ thức, nhập cõi thiên thai...


Nhà vật lý học như A. Einstein thì không chịu chuyện " bất khả tư nghị", ông muốn biết Tạo Hóa nghĩ gì - I want to know God' thoughts; the rest are details- ông đi tìm Vũ trụ Thống nhất trường- Unified Theory, quân bằng phương trình, bó 4 lực lại thành một bó: trọng lực, điện từ lực, lực mạnh và lực yếu hạt nhân (gravitational-, electromagnetic- strong- weak- nuclear forces), nghĩa là không còn cách biệt giữa Không Thời gian,...Năm ngàn năm trước, Phục Hy cũng đã thống nhất hai lực Âm Dương, một âm một dương, tứ tượng, bát quái, rồi 64 quẻ... thống nhất quy vào Thái cực, nhưng trên Thái cực là gì ? là Tạo hóa chăng? là ông Trời chăng ?...hệ thống suy tưởng Âm Dương đã là cao, nhưng tới Thái cực thì vẫn chưa hết gợn sóng ý niệm, còn " Cực" dù là cực thái! Nhà Phật, thấy cái ngõ cụt ấy, phá hết biên kiến Vật- Tâm, quét sạch vọng niệm, tới mức phi tưởng, phi phi tưởng, tới mức Thiền bậc bảy bậc tám bậc chín...quán, tuệ.

Cuối đời, sau gần 30 năm mài miệt suy tưởng về Vũ trụ Thống nhất trường, Eisntein đã tâm sự là chưa tìm ra luật phổ quát nhất thống tất cả mọi lực trong vũ trụ...vũ trụ bành trướng, ngân hà ngày một văng ra xa, không co rút và bành trướng như suy luận, không có hằng số vũ trụ (cosmological constant) nhưng có thiên ngục black hole, ba lực bó lại làm một dung thông nhưng trọng lực thì vẫn nằm ngoài v..v.. gần đây vật lý gia Stephen Hawking, muốn nhất thống quang lực quantum với trọng lực trong một lý thuyết bao gồm tất cả- a theory of everything, còn Einstein thì không thích sự tình cờ trong thuyết lý quantum, ông nói " Tạo hóa không chơi xúc sắc xúc sẻ " God does not play dice...và ông muốn tìm kiếm xem Tạo hóa nghĩ gì khi sáng tạo ra vũ trụ, điều lý thú nhất, kỳ diệu nhất, theo Einstein là tại sao ta lại hiểu được những gì tưởng là không thể hiểu! (...The eternal mystery of the world is its comprehensibility...). Nhưng rồi giới hạn nhân sinh, Einstein cũng phải buông bỏ, về chầu Tạo hóa Tâm vũ, một cosmic God, không phải là một Thượng đế ngồi cao thưởng phạt loài người... Có thể ông đã đọc thoáng qua kinh Phật, từng đọc kinh sách cổ thư Ấn độ, từng ngồi trò chuyện với Tagore, nhưng nếu đi sâu hơn vào kinh Phật, không chừng sẽ kiến tánh đại ngộ, Vật lý chỉ là phương tiện của dục giới, có tìm hiểu đến đâu thì vẫn quanh quẩn trong hình sắc vật thể, pháp hữu vi chẳng thể dùng để đạt pháp vô vi, tục đế làm sao vươn tới chân đế... Vô sắc giới, cõi Tâm, tạm gọi như là một Cõi, thực ra Tâm không còn là Cõi, không còn hai cái cột Không- Thời nữa, thì không thể đóng khung vào một Cõi nào, và như thế mới là thể tính, là nền chung, là Thống nhất trường, vừa sắc giới, vừa vô sắc giới, vừa cõi này, vừa các cõi kia, vừa nhân thiên địa, tam tài, thông cả tam giới là Vương, một vạch thẳng thông qua ba vạch ngang, Dịch và Nho, Lão, đã là cao, nhưng lý Hoa nghiêm còn cẩn trọng hơn, thiên địa nhân, đúng, nhưng Thiên là một ẩn số, đa thiên vũ trụ, tam thiên đại thiên, vô lượng, vậy thì hãy lấy lý sự sự vô ngại, lý lý dung thông, làm quy luật vũ trụ thống nhất trường, có lẽ sát với tầm vóc tề thiên hơn... Einstein nói " Sự tương đối dạy ta tính dung thông giữa các hình sắc dị biệt của cùng một thực tướng- Relativity teaches us the connection between the different descriptions of one and the same reality. Những vi tử như proton, neutron, pion...biến dạng luôn luôn đến nỗi các vi tử có thể xem như nối kết -combination- với nhau chứ không riêng rẽ (In the Flower Garland Sutra, each part of physical reality is contracted of all the other parts- The Dance Wu Li Master-An overview of the new Physics by G.Zukav p.238).

LÝ SỰ HOA NGHIÊM

Nhà Phật tùy duyên phân ra Tam giới : Dục giới bao gồm Người, A tu la ( dưới người một cấp độ), Địa ngục, Ngạ quỷ, Súc sinh- Sắc giới gồm các vị trời, đã vượt qua nhị biên nam nữ, hết dục vọng, sống trong thiền định, chính ở Sắc giới mà công phu thiền định, từ sơ thiền đến nhị thiền, tam thiền lên tứ thiền...thì hào quang đã phát ra rực rỡ, đã sinh hóa từ cõi dục vật thể sang cõi vô lượng quang, cõi thanh tịnh, tới Vô sắc giới, chẳng còn hình sắc, chẳng còn nam nữ âm dương, cảnh giới này thuần nghiệp thức, thuần tâm, vô biên, vô sở hữu, phi tưởng, phi phi tưởng...là nhất thống trường mà Einstein phải chăng đã cố tìm kiếm ?
Tính dung thông phổ quát, vô ngại, phá chấp...có thể giúp tìm hiểu thuyết luân hồi rộng rãi hơn: óc chấp trước duy khoa học thì thấy mâu thuẫn khi con người đã chết, đã tắt, thì còn cái gì lăn lóc mấy ngả luân hồi nữa...Will Durant viết " ..if there is no soul, how can it pass into other existences...He ( Buddha) took the Wheel of Rebirth and the Law of Karma for granted...Our Oriental Heritage tr.435 )..Tuy Will Durant biết nhà Phật chú trọng tới việc chấm dứt luân hồi, tới giải thoát, nhưng chưa thấu lẽ sắc sắc không không, vô thường, thiên biến vạn hóa của chúng sinh...nên còn kẹt vào ý niệm linh hồn -soul- bất biến vật lý của tôn giáo thần linh; nếu hiểu theo nghĩa linh động, dị tướng mà đồng tướng hiện tượng nhưng bản thể vẫn nhất như, thì sẽ không còn thấy mâu thuẫn, vì Luân Hồi chỉ là sự chuyển hóa- the process of transformation relative to one's karmic account, tùy nghiệp tùy duyên, của chủng tử, soi chiếu nhau như ánh đèn trong vạn vạn tấm gương, sang hình này dạng kia, sang cõi này cõi khác, có khi, trở lại cõi người tái sinh duyên, như người phải đi học lại, học" đúp", kiểu tú kép tú mền...nặng nợ trần gian. Trong vòng luân hồi samsara ngọn lửa chưa phụt tắt, nó còn le lói, âm ỉ, cho tới khi giải thoát rốt ráo, nhập Niết bàn, mới gọi là tắt ngấm...không còn chuyện còn hay hết nữa. Cũng có thể ví như một bản đại hòa âm vũ trụ, nốt nhạc này trầm xuống, nốt nhạc kia nổi lên, nốt trầm không hẳn là hết, vẫn là nhạc biến hóa sang cung bậc khác mà thôi. Cho nên súc sinh ngạ quỷ chuyển hóa lên người, người hóa thành quỷ, thành cậu chó, hổ biến ra người, trâu bò gà lợn... hóa kiếp thành đồ tể...nàng kiều hết kiếp thành ni cô...v..v..trẻ thơ chết non là hết nghiệp trần gian chuyển qua kiếp khác...tất cả như một tổng thể, những làn sóng trên biển cả, sóng to sóng nhỏ, lồng vào nhau, hóa hiện như riêng mà vẫn chung đại hải.

Vũ trụ tại tâm, thiên lý tại nhân tâm, dung thông giữa Phật, Khổng, Lão, cũng là sự dung thông giữa cảnh giới, người, vật, tiên, trời, Bụt...hiểu chữ Bụt như một luồng sáng phổ quát khắp mọi vũ trụ, thì búp sen trong ao bùn, hay vũ trụ hoa nghiêm cũng giống nhau: kinh Hoa Nghiêm (hua yen- avatamsaka flower garland sutra) cho vũ trụ như lớp lớp gió xoáy, tỷ tỷ như bụi đá núi Tu Di đập nát ra, tựa đóa sen, đài sen ở giữa cứng bền như kim cương, hạt sen nằm trong những lỗ đại dương diệu hương thơm ngát, nhiều vô lượng, như những nguyên tử atoms không thể mô tả trong vô lượng Bụt trường (buddha fields), cõi tịnh độ này, trong cửu phẩm liên hoa, chín bậc cao thấp, thượng thiên (1 tỷ cõi), trung thiên (1 triệu cõi) , hạ thiên (1 ngàn cõi), cũng là ngụ ngôn về sinh thành vũ trụ , mỗi cánh sen là một tỷ thế giới, tức một Tam thiên đại thiên cõi ( Sutra of the perfect net -Kinh Diệu võng) và cũng chỉ là một hạt bụi quay vòng xoáy ốc trong vô lượng đám bụi tinh thể khác.


Hiểu Bụt như một lực phổ quát sẽ thấy chuyện Tề Thiên Đại Thánh trong Tây Du Ký toan đi ra ngoài vũ trụ mà rút cuộc vẫn nằm trong bàn tay Bồ tát là hàm chứa thiền quán Bụt trường thống nhất vậy. Những thuyết vật lý mới, không gian 4 chiều tới 11 chiều sợi dây vi tử- như dây đàn- khi rung lên sẽ tạo ra nốt nhạc tức là những vi tử nhỏ hơn nguyên tử, gần như không có trọng lực-massless, rất giống với lời dạy lân không, gần cận với không, của Đức Phật, (string theory-subatomic particles), các sợi dây vi tử rung động-vibrate- trong không gian và thời gian, rung động làm cong không gian, gravity & bending of space, và dây đàn rung lên chính là quang lực, vibrations & quantums...cố gắng thống nhất trọng lực với quang lực này lại càng củng cố tư tưởng Hoa Nghiêm, sự sự dung thông, lý lý vô ngại mà thôi.

Dường như tổ tiên Việt Nam, những nhà sư đời Lý, ngàn năm Thăng Long, cũng đã thấu lý Hoa nghiêm vũ trụ. Xứ nghèo chẳng kiến trúc vĩ đại như bên Nam Dương Borobodur với vòng vòng lớp lớp núi Tu di cánh sen đài ngọc theo mô hình Mạn đà la...các vị giản qui vào một cánh sen nhất trụ kình thiên chùa Một Cột, một cột đá nổi lên từ hồ sen đỡ Liên Hoa đài (đời Lý Thái Tôn 1049), đài thờ Quan Âm..hình dạng chùa phảng phất một Bụt trường tâm vũ quán (cosmopsychoawakening) trong Hoa nghiêm và Diệu Hoa kinh. Công phu giản quy đó phản ảnh sức nhất thiết chủng trí, khả năng tập đại thành viên giác, dẫn vào vũ trụ thống nhất trường, nhẹ nhàng như làn gió trên mặt hồ phảng phất hương sen. Tháp Báo Thiên, với chóp tháp Đao Lợi Thiên, nay đã mất, một trong Tứ khí của đất nước, hẳn là cột trụ-axis mundi- lên cõi Trời Đao Lợi, vòm tháp stupa thường hình tròn như quả trứng-anda -cosmic egg, nở ra vũ trụ...cho đến Đế Thiên Đế Thích...cũng biểu trưng vũ trụ Bụt trường và có thể đã được kiến trúc theo dạng đồ chòm sao thất tinh giống như các Kim Tự tháp ở Ai cập, ở Trung Mỹ Maya...Biểu tượng OM (trong Om mani padme hum, ngọc quý hoa sen) và Màyà (màn vô minh che mờ tuyệt đối Brahman) đều là những lực vũ trụ... Phải chăng nhân loại từ dăm ngàn năm trước đã có một nền văn minh tổng hợp thiên, địa, nhân giới ? Từ phù đồ stupa chuyển sang Viễn đông thành chùa, bảo tháp pagoda, gốc gác từ chữ dagoba của Tích lan, tức nơi chứa xá lợi và xá lợi chính là ngọc quý- mani ?

Thế thì trong Bụt trường thống nhất đó, cái gì là hoạt lực đưa đẩy chúng sinh chuyển hóa từ cõi này sang cõi kia, cái gì đẩy toang cửa khiến mọi quốc độ dung thông với nhau? Quốc độ- field levels- tùy theo nghiệp nặng hay nhẹ, nặng thì xuống Địa ngục, nhẹ thì vào Cực lạc, 10 độ chính " nhất tâm cụ thập pháp giới ": Địa ngục, Ngạ quỷ, Súc sinh- A tu la, NGƯỜI- Thiên, Thanh văn, Duyên giác- Cực lạc-Niết Bàn, kinh qua 9 cửa, cửa chuyển hóa nhờ tu tập sám hối tỉnh ngộ, nhân tốt, quả lành, nghiệp nhẹ, giúp chúng sinh đang ở Địa ngục được lên lớp cao hơn...không bị kẹt mãi ở một quốc độ...hoạt lực chuyển hóa chính là NGHIỆP, như một lực phổ quát- universal energy-chi phối nhất thống trường. Điều quan trọng là Nghiệp lực không là lực riêng rẽ ở ngoài chúng sinh, ở ngoài pháp tướng, nó chính là chủng tử nằm cùng, tương tức tương tác với chúng sinh mọi quốc độ, nó là ngọn lửa nhỏ, Biệt nghiệp, cộng với ngọn đuốc lớn, Cộng nghiệp, tất cả, B+C= Bụt trường, tức bản thể " thị chư pháp không tướng, bất sinh bất diệt, bất cấu bất tịnh, bất tăng bất giảm", đấy là nhất thống trường, nghiệp trường hiểu như dụng của Bụt trường bất tăng bất giảm, tăng hay giảm, dơ hay sạch...chỉ là ý niệm của nhân thế. Cho nên Bụt trường P = (B+C) nghiệp x K (kiếp) có thể là diệu pháp thức cho pháp giới vậy.

Einstein và các nhà vật lý học còn kẹt vào tướng, nên không thể thấy nhất thống trường vốn là không tướng bất tăng bất giảm, " nơi nào có tướng nơi đó còn có sự lường gạt " (kinh Kim Cương), tướng là hình sắc hóa hiện như đom đóm mắt, dùng ngũ giác, dùng ý niệm để nắm bắt thì chỉ nắm bắt được cái bóng, như đứa trẻ thơ ngỡ cái bóng trên tường là bố nó trong nhà đêm khuya ánh đèn dầu hắt lên, như người tù trong ẩn dụ hang tối của Platon (allégorie de la caverne) chưa ra ánh sáng, chỉ nhìn thấy ảo ảnh... vật lý gia dựa vào sắc mà phát kiến, dựa vào thanh, hương, vị, xúc, vào pháp mà phát ý, trong khi tâm phải vô sở trụ, không kẹt vào khái niệm, không vướng vào khung cũi, mới "nhi sinh kỳ tâm", mới quán chiếu được, mới đạt tuệ giác sáng tạo, mới nhập vũ trụ thống nhất trường.

THỦY THIỀN DO THÁI

Einstein và nhiều vật lý gia nguyên tử Do thái, xẻ được hạt nhân, nối được hạt nhân, làm nảy ra lực kinh động không gian, ra bom A, bom H, có lẽ từ khoa huyền bí học Kabbalah chăng? cổ phái Do thái này cũng hình dung vũ trụ như một cái cây, một cái cột, nhất trụ dựng từ đất lên Trời (one pillar extends from earth to heaven), thiện nhân thế gian giữ cột vững, dù chỉ một người...Tạo hóa xẻ một phần ánh sáng cho nhân thế, giữ lại 6 phần kia, chỉ có người quán chiếu diệu quang diệu hương ấy, mới đạt đạo ( Light is sown for the righteous, then the worlds will be fragrant, and all will be one. But until the world that is coming arrives, it is stored and hidden away.), nhất thể Ein Sof hiểu như là Thượng đế thăng hoa- transcendence of God, là nhất thống, unified oneness, each of us emerges from Ein Sof and is included in it...tạo ra vũ trụ, muôn vàn sắc thái, từ luồng sáng vi diệu kia tung tué khắp nơi như thể từ những cái lu vỡ bể ra (sparks of holiness are scattered throughout the cosmos, as a result of the primordial catastrophe of the breaking of the vessels), xem ra, chẳng khác big bang nổ tung phát khởi đa vũ trụ, mà tinh thần Hoa nghiêm, óc Đông phương, được mang vào bí pháp kinh truyền Kabbalah qua đạo sư thi bá Rumi, tông Sufi Hồi giáo quay lộn luân tinh chầu nhật, trong những vần diệu âm :

Trong mỗi thiên hà, ta thấy một hạt nhân
trong mỗi hạt nhân, lại ẩn một thiên thần

dans chaque sphère céleste, je vois une prunelle
dans chaque prunelle je vois un ange

Chốn ta vô trụ không tên
đất trời là một, nhị biên ta từ

my place is the placeless, my trace is traceless
I have put duality away, I have seen that the two are one (1)

Những câu thơ trên của thi hào Rumi chẳng khác nghĩa vi tế tương dung trong Ngộ Đạo Ca của Thiền sư Khánh Hỷ đời Lý:

càn khôn tận thị mao đầu thượng,
nhật nguyệt bao hàm giới tử trung
tạm dịch :
càn khôn treo tận đầu lông
trời trăng chứa hạt cải mòng cũng nên


Tông Sufi bắt nguồn ở miền Afghanistan mang dấu ấn Phật pháp, có lần tràng hạt, có du sĩ...và lạ thay lại đi vào khuynh hướng kỳ bí Kabbalah của Do thái, nếu Phật pháp trong kinh Vô lượng thọ có quán tưởng nước (thủy quán) và quán ao nước (bảo trì quán), thì Kabbalah cũng có phép thủy thiền- ngắm nước mà quán chiếu (Gazing at water developped into a kabbalistic technique of meditation), một phương pháp tập trung tư tưởng, thiền nước, mà Nostradamus, một truyền nhân Do thái tiên tri, đã dùng để viết ra Sấm ký, thế kỷ XVI : Nostradamus thường ngồi trước thau nước, im lặng hàng giờ, quán chiếu thế sự thăng trầm hung cát mà viết ra sấm .
Nhà Phật cũng nói tới nguyên tử, cũng nói tới vật thể nhỏ nhất, nhỏ tới mức gần như hư không-lân không- trong duy thức học, thế thì ngay trong cảnh giới hữu vi sang vô vi cũng chẳng có biên giới rõ ràng chi phối bởi " vật lý", từ vật chất bốc lên thành photon, boson, quang tử có còn là "vật" nữa đâu...chẳng có công thức hữu vi nào đuổi bắt được tề thiên, chẳng có luật tắc hữu hình nào gói được những cơn gió đáy vũ trụ biến ra 32 biến như Quan Âm, cho rằng đầu óc người cũng là một phần đầu óc tạo hóa đi chăng nữa, thì cũng phải nhận rằng ta là ngọn đèn dầu lạc, le lói 1/7 ánh sáng của Bụt trường mà thôi ! nhà Phật không nói tới một Thượng đế sáng tạo ra vũ trụ, mà nói tới vô lượng Bụt trong vũ trụ, hàm chứa trong vạn vật, pantheistic hơn là monotheistic (Buddhist Cosmo. tr.127), điều này A. Eisntein cũng nói thoáng qua về vô hạn trong hữu hạn : the infinitely superior spirit that reveals itself in the little that we, with our weak and transitory understanding, can comprehend of reality.
*

Những dòng lạm bàn trên chỉ là sự mò mẫm trong biển học. Đạo giáo không nhất thiết dựa vào khoa học vật lý hiện đại để củng cố đạo, làm như thế chẳng khác gì mang phân tích ánh sáng đom đóm để chứng minh ánh sáng mặt trời. Nhưng mò mẫm dẫn khởi lòng tin trong sáng: không có gì ra khỏi bàn tay Hoa nghiêm Bồ tát, dù vi tử hay tinh đẩu, dù vật lý hay tâm lý, dù vô thức hay siêu thức, dù sống hay chết, dù hữu thần hay vô thần...đấy chính là diệu pháp rốt ráo vậy.

***

Tham Khảo chính :
Buddhist Cosmology- Akira Sadakata- Kòsei, Tokyo- 1997
Nhập Pháp Giới- Nghiêm Xuân Hồng- Xuân Thu- 1996
Khái luận Triết lý Kinh Hoa nghiêm - Đức Nhuận- Viện Triết lý VN & Triết học Thế giới- 2000.
Our Oriental Heritage- The Story of Civilization- Will Durant - MJF Books 1935
Einstein and Buddha-The Parallel Sayings by Thomas J. McFarlane-Seaston 2002
The Dancing Wu Li Master-An overview of the New Physics by Gary Zukav- Bantam 1979.
The Essential Kabbalah- Daniel C. Matt -Castle Books 1995
Le moine et le philosophe- Le bouddhisme aujourd’hui par J.F. Revel et M. Ricard- Nil ed.1997
* Các sách và Websites về Stephen Hawking : Brief History of Time, The Big Bang, Origin of the Universe ...
* Các websites về Relativity và Unified theory của A.Einstein như của Leiwen Wu, Encarta Encyclopedia...

(1)Xem Hoa Cát Nóng, dẫn nhập Cổ thi Ả Rập của cùng tác giả, xb 2-2003. Các bản dịch kinh Hoa Nghiêm do các nhà sư từ Ấn và từ xứ A Phú Hãn (như Prajna xứ Kaboul đời Đường) dịch sang Hán văn. A Phú Hãn có nhiều cổ tích Phật (như tượng Phật bị rợ Taliban phá) và là phần đất Ba Tư cổ xưa, cho nên rất có thể các thi nhân Ả Rập, Ba Tư, như Rumi, Hafiz... đã chịu ảnh hưởng Phật giáo.

* Để trình bày, chúng tôi tạm đặt ra một số từ ngữ như :
Bụt trường (Buddha field)
Hoạt lực nghiệp chuyển hóa trong các quốc độ (karma as the universal energy for transformation in Buddha field levels)
Tâm Vũ Quán (cosmopsychoawakening)
Diệu pháp thức (B+C) x K, lấy tuệ pháp Phật tri kiến thay cho các tri kiến vật lý như E=MC 2- Tùy nghi ngôn ngữ phương tiện.


Tuesday, April 27, 2010

BAÌ HỌC CANH TÂN CỦA VUA PHẬT XỨ THÁI

BÀI HỌC CANH TÂN CỦA
VUA PHẬT XỨ THÁI MONGKUT



Thế kỷ XIII Việt Nam có vua Phật Trần Nhân Tôn (1279-1293) thì Thái Lan cũng có một vị vua, đáng gọi là vua Phật ở thế kỷ XIX, đồng thời với vua Tự Đức (1843-1883) bên ta : đấy là vua Mongkut (1851-1868) mà thế giới biết đến qua phim ảnh, The King and I, Nhà Vua và Tôi, thời 1960. Không phải ngẫu nhiên tài tử trọc đầu Yul Brynner được chọn thủ vai vua Mongkut và Deborah Kerr thủ vai cô giáo dậy tiếng Anh, Mrs. Anna Leonowens : phim bản dựa phần nào trên sử liệu, nhà vua Mongkut trước khi lên ngôi đã xuống tóc xuất gia 27 năm, sống trong chùa và từng giữ chức Sư trưởng một tu viện, còn Anna là cô giáo dậy Anh ngữ từ Singapore sang, 1866-68, với hợp đồng 3 năm, nhưng mới 2 năm thì vua Mongkut mất, phim bản thêm chuyện cô giáo Anna khiêu vũ với nhà vua và đứng cạnh giường vua khi vua thăng hà. Cô giáo Anna thật ra không phải là người dậy vua tiếng Anh, vua Mongkut học Anh văn với các giáo sĩ Hoa kỳ, từ khi còn ở chùa, học 3 năm với Dr. Caswell và sau đó với Dr. Bradley và Dr.House. Khi lên ngôi, nhà vua nhờ Dr. Bradley tổ chức lớp dậy Anh ngữ cho 9 phi tần trẻ tuổi trong cung. Dr. Bradley cử ba bà giáo thay phiên vào dậy, từ tháng 8 năm 1851, sau 3 năm lớp học bị ngưng vì các bà giáo bắt đầu mang Thánh Kinh Cơ Đốc ra dậy và lại còn chỉ trích nhà vua đa thê! Vua Mongkut chỉ có 39 cung phi, không phải 600 như Sir J.Browning viết ! vua rất rộng lượng, cho phép các cung phi rời cung nếu không sinh hoàng tử và được tái giá. Nhà vua muốn các cung phi và công chúa, hoàng tử, được giáo dục theo kiểu Tây phương nên mới nhờ quan lãnh sự ở Tân Gia Ba tìm được bà giáo Anna sang Thái, với điều kiện dậy Anh ngữ chứ không dậy giáo lý !

VUA MONGKUT và TRUYỀN THỐNG GIÁO DỤC NHÀ CHÙA

Cho đến thời vua Mongkut Thái Lan không có chế độ giáo dục thi cử Tống Nho như Tầu, Việt. Thái vẫn như thời Lý bên ta, việc giáo dục dành cho nhà Chùa, giao cho các sư sãi. Từ nhỏ, hoàng tử Mongkut đã được gửi tới chùa để học đọc và viết chữ, đồng thời học cách cưỡi voi (elephantry), năm 13 tuổi xuống tóc ( lễ cắt cuộn tóc dài quấn cao đỉnh đầu) và trở thành chú tiểu trong 8 tháng theo truyền thống. Hết 8 tháng tu tập mới được trở về cung và được vua cha trao cho chức vụ tượng trưng trong triều. Năm 21 tuổi, 1824, Mongkut chính thức trở thành sa môn và cũng vào năm này vua cha, Rama II, mất. Hoàng tử Tap, con một thứ phi, lên nối ngôi, Rama III. Tuy không phải là con Hoàng hậu như Mongkut, nhưng hoàng tử Tap đã được vua cha yêu quý, có kinh nghiệm ngoại giao ( ký hiệp ước 1821 với Crawford) và cai trị nên được hoàng gia ủng hộ lên ngôi. Sư Mongkut, hoàng thế tử, không tranh dành với em, sư chọn ở trong chùa suốt 27 năm.

CÔNG CUỘC HIỆN ĐẠI HÓA PHẬT GIÁO CỦA SƯ MONGKUT

Cư trú tại chùa Mahatat sư Mongkut nhận thấy giới tăng sĩ không giữ đúng giới luật và đi sai với kinh kệ mà đức Phật trao truyền. Mongkut ra công học chữ Pali để khán kinh trực tiếp không qua bản dịch, trình độ Pali của Mongkut được xác định qua kỳ giám định “ thi đình”, cấp Thái học sinh, đệ cửu đẳng, cao cấp nhất của Phật học thời đó. Mongkut từng thề nguyện : nếu trong 7 ngày mà không gặp được chân sư thì sẽ vĩnh viễn hoàn tục rời chùa. Chư Phật đã đáp lại lời nguyện đó : Mongkut gặp được một vị sư người thiểu số Mon xứ Miến Điện hiện đang trú ngụ ở Thái. Sư mặc áo vàng, liễu kinh đúng như Mongkut đã đọc, Mongkut khâm phục xin nhà sư người Mon làm lại lễ thọ giới cho mình. Mongkut bắt đầu thanh lọc đạo Phật xứ Thái : sư cho vứt bỏ một lúc 500 cuốn kinh sách, viết sai, dịch sai, và cho dịch kinh sách lại từ cổ ngữ Pali. Năm 1836 nhà Vua phong Mongkut làm viện chủ chùa Bovorniwet, đào tạo sư sãi, từ năm người lên cả trăm người mỗi khóa. Sư Mongkut không tin loại kinh chứa chất huyền thoại như kinh Bản sinh Jakata, cuốn kinh kể lại các kiếp xưa của đức Phật. Năm 1840 nhân có 5 nhà sư Tích Lan sang thăm, vua Thái cho cả 5 vị tới tu viện tham luận với sư Mongkut và sư nhận ra ngay là đạo Phật Tích Lan nguyên thủy, tinh ròng, chưa bị uốn cong thay đổi và Tam Tạng Kinh ở Tích Lan còn trọn vẹn. Năm 1842 Mongkut cử 5 vị sư sang Tích Lan mượn 40 bộ về dịch, năm 1844 lại sang Tích Lan trả kinh và mượn nốt 30 bộ khác. Bốn mươi nhà sư Tích Lan nhân đó theo sang Thái, ở lại 5 năm, và toàn bộ Tam Tạng được dịch sang Thái ngữ nhưng mãi tới năm 1893 mới được in ấn ( đời vua Rama V, con Mongkut).


Bàn thờ lộ thiên ở Thái

Trong thời gian làm Sư trưởng Viện, Mongkut giao thiệp với các giáo sĩ Thiên Chúa giáo, học Anh ngữ với các giáo sĩ Mỹ, lại học cả Pháp ngữ với Giám mục Pallegois, giám mục dậy Latin cho Mongkut và đổi lại ngài dậy Pali cho giám mục. Mongkut không ngần ngại học hỏi và áp dụng phương pháp hoằng đạo của Thiên chúa giáo cho Phật giáo và thiết lập pháp môn mới cho Thái, Dharmayukta, cùng với pháp môn cũ, Mahanikaya, phát triển trên xứ Thái, và ảnh hưởng sang Cao Miên, Lào, cho tới ngày nay.
Mongkut dùng chữ Pali viết kệ tụng, và tu chỉnh nghi lễ. Sau này, khi lên ngôi vua, 1851, Mongkut phạt nặng các tu sĩ phạm giới rượu chè, thuốc phiện, dâm dục, ăn quá ngọ : họ phải hoàn tục, hay đi cắt cỏ cho voi ăn..

MỘT CHÍNH SÁCH CAI TRỊ PHÁ CHẤP

Vua Rama III mất năm 1851, hoàng tử lại nghiện thuốc phiện nên không được truyền ngôi. Hoàng gia họp lại và đi mời sư Mongkut, hoàng thế tử đích vị, anh của Rama III về làm vua, tức Rama IV. Năm ấy Mongkut đã 47 tuổi, đầy kinh nghiệm đời và đầy đức đạo. Ngay lễ đăng quang ngài đã phá chấp : mời người ngoại quốc dự lễ và không phải quỳ mọp như thần dân Thái, treo chuông cửa cung cho dân tới đánh chuông khiếu nại… cấm hoàng gia và quan chức bắt nô tỳ, cấm ép gái đẹp làng xóm về phủ đệ làm đoàn ca múa riêng…
Mongkut đặc biệt cởi mở với các giáo sĩ Cơ Đốc : ngài từng nói với một giáo sĩ Mỹ : ông có thể cải đạo toàn dân Thái nhưng còn một người ông không cải được là tôi ! Có lần một tăng sĩ cải sang Cơ Đốc Giáo, vua Rama III đòi trừng phạt, ngài Mongkut đã ngăn lại và chủ trương mọi người được tự do lựa chọn tín ngưỡng. Năm 1850 Thái bị dịch tả hoành hành, nhà vua Rama III đòi các giáo sĩ cung cấp chim để làm lễ phóng sinh, các giáo sĩ Hoa kỳ tuân lệnh nhưng 8 giáo sĩ Pháp bất tuân liền bị trục xuất sang Tân Gia Ba, riêng giáo sĩ Pallegois, bạn của sư Mongkut, đã linh động, cố thuyết phục các giáo sĩ Pháp là trong Thánh Kinh không có câu nào cấm thả chim muông cả ! Vua Mongkut còn cho phép các giáo sĩ cất nhà thờ, khuyến khích và bảo vệ họ khi đi truyền đạo, tặng tiền bạc và khi mất, như giám mục Pallegois, còn được tẩm liệm theo nghi lễ hoàng gia với thuyền bát nhã và súng chào.
Vua Mongkut chẳng những mài miệt học văn hóa, tôn giáo mà ngài còn say mê tân học, từ toán học tới thiên văn, vật lý hóa học, địa lý..ngài tính nhật thực ngày 18 tháng 8 năm 1868 chính xác hơn các nhà thiên văn học Pháp tới 2 giây đồng hồ ! Mỗi lần sứ thần Thái đi Au châu ngài đều gửi mua dụng cụ máy móc và sách báo khoa học, ngài thường xuyên đọc báo Anh ngữ từ Singapore gửi qua. Ngay từ năm 1835 khi thấy các giáo sĩ Hoa Kỳ có máy in Thánh Kinh, ngài đã lập ngay một nhà in trong chùa Bovorniwet, khi lên ngôi nhà in được chuyển vào cung Grand Palace và bản tin The Royal Gazette được phát hành cho hoàng gia triều đình đọc.



THÂN ANH QUỐC

Vua Mongkut đặc biệt thân thiện với Anh quốc ; ngài dùng một Đại Uy Anh luyện quân sĩ và các sĩ quan Anh chỉ huy thuyền chiến Thái, người Anh luyện cảnh sát còn người Pháp chỉ được dùng vào việc luyện lính gác ! Ngài cho người Anh vào kỹ nghệ làm đường mía, khai mỏ..xưa nay vẫn trong tay người Tầu.
Năm 1853 vua cho nhập cảng máy in tiền giấy, lập đường dây điện tín với Miến Điện và Penang, đặt đường xe lửa.. Ngài cử sứ thần sang Anh với cả thuyền chở phẩm vật dâng tặng nữ hoàng Victoria kể cả một thớt voi, 3 tranh Phật, kéo vàng cắt tóc và quần lót lụa Thái ! Ngài còn tự tay viết thư bằng Anh ngữ cho nữ hoàng, trong thư tự nhận là người anh em thân mến của nữ hoàng : her affectionate brother, về sau, trong thư đáp lễ, nữ hoàng Victoria cũng vui vẻ kết thư bằng câu “ your affectionate sister and friend” – chị em và bạn mến của huynh. Giữa thế kỷ XIX, đệ nhất cường quốc là Anh, mà giao hảo thân thiện như thế quả là khôn ngoan và nhìn xa thấy rộng.

VUA MONGKUT và VIỆT MIÊN LÀO.

Năm 1864, thế tử Norodom chạy sang Thái cầu cứu vì bị em đoạt ngôi. Thái cho quân đưa Norodom về và cai trị Cao Miên. Sau, trước áp lực của giám mục Pháp tên Miche dụ Cao Miên về với Pháp và Đại úy Doudart de Lagrée mang quân Pháp sang, Thái phải rút quân vào năm 1864 nhường Cao Miên cho Pháp đô hộ. Trong bức thư sứ thần Thái dâng lên nữ hoàng Anh, vào năm 1857 có câu xác định đất đai vương quốc Thái ..King Mongkut the Supreme or Major King of Siamese Kingdom and its adjacent tributary countries : Laos, Cambodia, and several provinces of Malay Peninsula etc,etc…Các thư ngoại giao của Mongkut thường rất dài và hay dùng chữ etc, etc..như phim The King and I đã mô tả. Qua các lá thư này có thể hình dung sự tranh chấp ngấm ngầm giữa thực dân Anh và Pháp ở Đông Á cùng ảnh hưởng của các nhà truyền giáo. Thái khéo léo kết bạn với nhiều nước Au Mỹ, nghiêng về Anh vì Anh mạnh nhất, nghiêm chỉnh nhất, và không có dã tâm đánh bật gốc văn hóa tín ngưỡng địa phương. Anh chỉ chú trọng tới thương mại, dù ở Trung đông, Ấn, Miến Điện, Mã Lai hay Thái.
Trong hiệp ước ký kết với Anh qua sứ thần Parkes năm 1856 xác nhận quan hệ ngoại giao song phương, chính vua Mongkut đã dịch sang Thái ngữ và còn cho dịch sang Hán văn lẫn Việt văn ( chữ Nôm ?) để Hoa kiều và Việt kiều ở Thái có thể hiểu được. Cuộc tiếp rước sứ thần Anh và tiếp nhận thư của nữ hoàng Anh được tổ chức hết sức trọng thể, hơn 2500 lính chào và một cỗ voi của chính nhà vua che lọng chở thư của nữ hoàng Anh vào cung !
Trong 17 năm trị vì, vua Mongkut ban rất nhiều chiếu chỉ và châu phê ngự bút, châu bản số 144 có đoạn liên quan tới Việt Nam như sau “ năm nay có thể hạn hán 60 ngày, chưa biết hạn hạn nặng hay nhẹ, chưa cần ngăn cấm xuất cảng gạo, cứ tiếp tục cho dân buôn bán. Chớ nghe lời bầy đặt của một số sư, tiểu, và những người thiếu hiểu biết, phao tin là người Anh thu mua gạo đổ xuống biển, đấy là tin thất thiệt vô lý..chớ phao tin đồn nhảm là người Anh lấy gạo Thái mang cho Việt Nam (yuan). Người Việt là cha của người Anh từ bao giờ mà dám nói như thế !”

*

BÀI HỌC CANH TÂN CỦA VUA PHẬT MONGKUT

Vua Mongkut mất năm 1868, sau khi lên vùng rừng núi, cùng với thống đốc Anh ở Singapore, Sir Harry Ord, để quan sát nhật thực, ngài bị mắc bệnh sốt rét rừng và hai tháng sau, thăng hà ở Bangkok. Tuy không được sang thăm Anh quốc, nhưng mối giao hảo giữa hai nước đã đặt đầu cầu cho công cuộc canh tân Thái : con vua Mongkut, Rama V đã sang thăm nữ hoàng Anh năm 1893 và tới năm 1926 thì Thái đã có trên 2000 sinh viên du học Anh quốc ! Sứ thần Parkes gọi vua Mongkut là vị lãnh tụ tân tiến nhất của Á Đông, vượt xa thời đại, Bowring thì tán tụng Mongkut là ông vua vĩ đại nhất Đông phương và là một trong những học giả uyên thâm nhất về Phật giáo.
Công cuộc canh tân đất nước của vua Mongkut đi trước Minh Trị Thiên Hoàng Nhật Bản (1867-1912) cả một thế hệ, hạt giống thiện mà vua đã gieo trồng nẩy nở viên mãn trên xứ Thái : Thái cả 150 năm nay tránh được họa Thực dân, họa ý thức hệ và họa mất gốc. Nếu kể từ sau cuộc chiến xâm lăng của Miến Điện vào Thái năm 1767, thì suốt 243 năm nay Thái được hưởng thái bình thịnh trị và triều đại Chakri tới nay đã truyền được 9 đời vua, vua Rama IX hiện tại trị vì hơn 60 năm, một minh quân đã và đang được toàn dân và thế giới mến phục. Một số bài học canh tân có thể rút tỉa từ vua Mongkut :

1-Việc canh tân đất nước cần khởi đầu bằng việc xây dựng căn bản tinh thần dân tộc, tinh thần ấy sẵn có trong Phật giáo, chỉ cần hiện đại hóa và tẩy rửa một viên ngọc quý, không cần vay mượn ý thức hệ hay đạo giáo nào khác. Giáo dục nhà Chùa trang bị cả văn lẫn vũ cho hành giả, riêng số lượng kinh sách đã là đại bách khoa, dạy từ đạo đức đến vũ trụ thiên văn, rốt ráo và rộng lớn hơn Tứ Thư Ngũ kinh nhiều. Cho nên không lấy làm lạ, thời Lý Trần các hiền nhân như Thường Kiệt, Tô Hiến Thành, Hưng Đạo, Quang Khải, Ngũ Lão..không có bằng cấp khoa bảng, nhưng giống lớp samurai Nhật Bản, văn vũ song toàn.
Phật giáo nguyên thủy (tiểu thừa) hữu hiệu trong việc chấn hưng đạo đức là vì : tự giác ưu tiên, chưa tu thân mà đã vội hý luận kinh kệ, chưa tự giác giữ giới mà đã đi bố thí pháp như Bồ Tát..thì dễ rơi vào vòng luẩn quẩn kiến chấp triết lý ngôn từ..Hình ảnh một tu sĩ chân đất khất thực là tấm gương nhẫn nhục khổ hạnh sống động, tự nó tỏa ra ánh sáng chinh phục thân giáo giác tha quần chúng hang cùng ngõ hẻm, vì thế từ Tích Lan, Miến Điện tới Thái, Lào..Phật giáo nguyên thủy đã giữ được thế sâu rễ bền gốc trước các tôn giáo ý hệ Tây phương.
2-Vua Mongkut đã để lại cho Thái một truyền thống tăng sĩ tài đức, những bậc đại sư cao tăng lần lượt tiếp nối xuất hiện.Sau khi lựa chọn đúng đường thì phần cốt yếu là huấn luyện thanh lọc nhân sự : sư sãi giữ giới làm gương cho tín đồ, thực tập hỷ xả phá chấp tạo hòa khí với mọi người. Thái không giết người theo đạo Cơ Đốc như ở các nước Phật giáo bị bôi bác bởi Tống Nho Việt, Tầu, Hàn, Nhật..tinh thần phá chấp cao thượng dung hóa khế cơ của nhà Phật đủ sức chinh phục các tôn giáo khác, đủ sức giữ vững nền tảng quần chúng, mà không cần tới chính quyền yểm trợ qua bạo lực. Cũng những giáo sĩ Cơ Đốc Pháp, Bồ đào Nha..mà tới Thái thì họ cảm phục, mà tới Tầu, Việt, Hàn, Nhật..thì xẩy chuyện lấn áp xung khắc..đấy chính là vì ở Thái họ gặp chính pháp chân tu, mà ở nơi khác thì họ gặp mạt pháp hủ Nho phong kiến.

3-Việt Nam khó được như Thái : các nước nghiêng về văn hóa Ấn Độ và Anh dường như tránh được điên đảo tưởng loại duy lý, còn các nước theo văn hóa Tầu, Pháp..dễ rơi vào nhị biên hý luận ngã mạn, từ đó tới độc tài phong kiến cực đoan. Là vì văn hóa Anh thực tiễn, trí thức Anh trọng danh dự và quân tử, họ gặp Gandhi thì trả lại độc lập, gặp Mongkut thì giao hảo thân tình..còn Pháp, Tầu..thì ưa biện chứng hý luận đỉnh cao trí tuệ..vì thế nên mớ kiến chấp Judeo duy lý mới có môi trường phát triển, trí thức Tây học, dễ mất quân bình tâm trí, điên đảo tưởng gây họa !
4-Trí thức Việt Nam, từ thời Tự Đức, cũng cố gắng đi tìm lối thoát cho dân tộc : sang Nhật, sang Nga, sang Pháp, Tây du Đông du....mà vẫn luẩn quẩn trong rọ điên đảo tưởng Thậm chí đến tinh thần phá chấp từ bi của nhà Phật cũng nhiều khi bị biến thể thành triết lý xuông với số học giả tầm chương trích cú kinh kệ nhiều hơn số tu tập thực chứng, bàn về Thiền thì nhiều mà thực sự tu Thiền thì ít, thuyết là vô tâm đối cảnh, vượt biên kiến, lắng nghe nỗi khổ tha nhân.. mà thực tế có khi lại lộng ngôn, chân giả thiện ác đạo đế tục đế bất phân minh, chẳng khác gì phàm phu vọng tưởng vô minh.
5-Người Thái, gốc Bách Việt từ Nam Chiếu xuống, có thể là Âu Việt hay Điền Việt là anh em của Lạc Việt, là láng giềng thân thiết của ta. Thái có lối sống hòa hợp cởi mở khiêm nhường, nhưng muốn có một vua Phật như Mongkut, như Lý Công Uẩn, như Trần Nhân Tôn không phải dễ..dân tộc cần trồng cây đức, mới có thiện duyên chuyển hóa vậy.


LƯU VĂN VỊNH


Tham Khảo
-King Mongkut and The British-by M.L. Manich Jumsai-Chalermnit-Bangkok. 1991
-In His Own Words by Vasana Chinvarakorn-Bangkok Post 12-18-2004- Excerpts from Collected Proclamations.
-Thai Air Magazine 12-04
-Việt Nam Sử Lược-Trần Trọng Kim
- Sử liệu Thái liên quan tới Việt Nam còn khá nhiều : thế kỷ XVII có nhóm người Cơ Đốc giáo VN chạy sang Thái tỵ nạn, vua Rama V con Mongkut đi thăm Java ( Nam Dương) cũng là nơi mà phái đoàn VN với Cao Bá Quát từng thăm viếng buôn bán, vua Rama VI cũng đi thăm Nam Dương và mang về Thái một số thợ thêu lụa người Việt, chính nhóm thợ Việt này đã dậy cung nữ của Hoàng hậu Thái thêu thùa và chỉ cách thêu trên lụa láng (flat silk embroidery). Với số trống đồng khá nhiều ở Thái, nhất là bắc Thái, nền văn hóa Lan Na hẳn có nhiều liên hệ với Nam Trung Hoa, và theo các nhà khảo cứu Tầu, Âu Mỹ và Thái hiện tại thì người Nam Chiếu khi bị nhà Nguyên đánh đã chạy sang Thái năm 1253 và từ vùng Chieng Mai đã lập thành nước Xiêm La ngày nay .
Thái đã phải nhượng đất đai cho thực dân Pháp như vùng Luangprabang, Vientian..Lào, nhường mấy tỉnh phía Nam sát Mã Lai ngày nay cho Anh, để mưu cầu hòa bình. Đệ nhị thế chiến Thái mềm dẻo với quân chiếm đóng Nhật, sau 1975 Thái cũng đạt được yêu cầu 23,000 quân Mỹ trú đóng rút đi. Chính sách ngoại giao Thái lấy dĩ hòa vi quý làm chuẩn, tránh đổ máu vô ích cho dân, nói theo nhà Phật thì họ ở quốc độ gần Cực lạc, khá xa quốc độ nóng nảy sát phạt A tu la.

Monday, April 26, 2010




CHAÒ MƯNG QUÝ ĐỘC GIẢ THÂN HƯŨ

Mạng TỊNH KHẨU PHÁP MÔN gồm những bài viết về Phật học, Thiền, Triết lý Đông Tây, Tâm lý học... sáng tác vào khoảng thơì gian 1980-2000.
TỊNH KHẨU là bước đầu vào Thiền, bước đầu Tu Tâm Dưỡng Tính, chế ngự cái TÔI -ego,Ngã-tiến tơí Bình Tâm Cư Trần Lạc Đạo, Hòa hợp nhân loại.

Kính bạch
Bụt sĩ LVV
(từ Bụt sĩ, mang nghĩa người Học Phật, về phương diện Tu hành dưới Cư sĩ một bậc)

Sunday, April 25, 2010




CHẠY LOẠN TỪ TRONG BÀO THAI !



Tôi lớn lên trên hai triệu thây người chết đói
tôi lớn lên trên hầm hố chông gai
tôi lớn lên giữa bom đạn thế chiến thứ hai
tôi lớn lên giữa cờ đỏ cờ vàng cờ tam tài
tôi lớn lên, chưa biết đi đã chạy,
chạy loạn từ trong bào thai !


Tôi lớn lên bên bờ Bạch Đằng Giang sóng bạc
bẩy trăm năm nghe tiếng cọc đóng lòng sông
chập chững đi, tưởng đâu đây voi Thánh Trần quật ngã đám quân Mông
rặng Tiên sơn Yên tử mây xếp thành, lồng lộng gió đồi thông.

Tôi lớn lên đôi bờ Bến Hải
tôi lớn lên da rám nắng Đồng Nai
tôi lớn lên ầm ầm đại pháo B 52
tôi lớn lên Việt Nam vẫn còn thời Trịnh Nguyễn chia hai !


Tôi lớn lên giữa mưa đạn bụi bom tiếng la tiếng hét
tôi lớn lên cùng thế hệ gầy ốm xanh xao
tôi lớn lên súng Tết nổ ran thay tràng pháo
tôi lớn lên giữa quê hương chằng chịt mô mìn địa đạo
tôi lớn lên khi xứ người đã bay vào quĩ đạo trăng sao !




MA TRƯỜNG SƠN, HỜN ĐÔNG HẢI


Tôi đến giữa thế chiến thứ hai
ngày biết ăn, hề !
hai triệu người chết đói
rau sắn ngô khoai hề !
nói năng chưa sõi
chập chững đi,
đã chạy,
huynh đệ tương tàn, tứ tán đuổi nhau,
quốc tế quốc gia quẩn quanh một giống một nòi, một bữa cơm rau !


tiếng khóc ấu thơ hề ! khôn nguôi bom nguyên tử
ba bốn lá cờ hề ! tam tứ quốc phân tranh
lương khô vách núi, Yên Tử Hạ Long hề hầm hố !
đêm súng nổ đì đùng, ngày đại bác liên thanh !

Thăng Long, Thăng Long, tóc xanh vừa một giáp !
cuồn cuộn qua cầu, bỏ Bắc suôi Nam
ta đánh ta hề ! ếch kêu đáy giếng Thái Bình Dương
Mẹ Âu Cơ hề ! đàn con lên núi xuống biển nửa thế kỷ bi thương !
Tầu Nga Tây Mỹ, trắng nâu đen đỏ tím vàng
máu Tiên Rồng đổ ba triệu chưa hết khát lũ ma hoang !


Biển Đông, biển Đông, thuyền nhân nhấp nhô từng đợt sóng
nửa triệu xương người rung rinh ánh nắng
Trường Sơn, Trường Sơn, sư đoàn ma đèo heo hang vắng
vạn vạn hồn thiêng gõ đầu lâu âm ỉ nhịp đồng ca :


Trời lung lung, đất linh linh
Trái tim nguyên hình
quỷ thần đâu ? trả lại dân ta !

Trả lại dân ta !
cát bụi nắm thành dăm bó
đặt lưng Rùa Vàng
hóa kiếp tận đảo xa
mai này hồn nhập vào gió bão
về Trời Nam thổi sạch yêu ma!

Trời cao cao, đất tinh linh
ba triệu trái tim nguyên hình
trả lại dân ta !

Hạ Long LVV 1999
Mỗi trái tim Việt Nam là một ngọn lửa
Mỗi ngọn lửa mang theo hồn thiêng sông núi
Mỗi ngọn lửa rừng rực một niềm TIN
Tin vào Tứ Bất Tử, bốn vị Thánh muôn đời phò trợ dân tộc khi quốc biến :
Chử Đồng Tử, Phù Đổng, Tản Viên, Liễu Hạnh.


PHÙ ĐỔNG THIÊN VƯƠNG

Ba nghìn năm xưa sơn hà xuất Thánh
nhổ gốc tre quất tan tác giặc Ân
ngựa khạc lửa cháy cánh rừng Phù Đổng
đỉnh Sóc Sơn chim Lạc mở hội Xuân,

Thánh lên ba, cả cười, vươn vai lớn
hét một hơi, bật trăm gốc tre ngà
cả đất tổ vùng lên như địa chấn
sứt mũi bươu đầu trốn chạy quỷ ma

Ba nghìn năm Rồng Tiên mây non Tản
roi sắt cầm tay, sách Ước hội non sông
mây ngũ sắc lọng trời bờm ngựa tía
tiếng quân reo dậy sóng ngợp Lô Hồng

Vó chiến mã đường Vương đi còn nóng
mấy nghìn năm bóng rờm rợp Hồng Bàng
triệu triệu dân ngời ngời muôn ánh mắt
đỉnh Sóc Sơn bất tử Thánh hiện ra,

Con dân Lạc ngóng ngọn tre đợi gió
lá bay bay lóc cóc tiếng ngựa về
ngực dập dồn tám mươi triệu bắp chân nung lửa
áo sắt roi dài Vương tới hẹn Văn Lang

Ngửa mặt trông từng giờ, pháo cầm tay một bánh,
đầu cây nêu phần phật tua cờ hiển hiện Thánh Viêm Bang.


Tân niên 14-3-2010 Bắc CA
Lưu Văn Vịnh